Bà Triệu là nữ anh hùng dân tộc Việt Nam, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách thống trị của nhà Đông Ngô. Bà nổi tiếng với khí phách kiên cường, ý chí giành độc lập dân tộc và khát vọng giải phóng nhân dân khỏi ách nô lệ.
Hình ảnh cưỡi voi trắng ra trận mô tả sự dũng mãnh của bà khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô, bà hy sinh khi mới 21 tuổi. ---------------- 1. Sơ lược về bà Triệu.
Triệu Thị Trinh sinh ngày 08 tháng 11 năm 226 tại miền núi Quan Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc làng Quan Yên (hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Từ nhỏ, bà sớm tỏ ra có chí khí hơn người. Khi cha bà hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa: "Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị". Cha mẹ đều mất sớm, Bà Triệu đến ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng ở Quan Yên.
Triệu Thị Trinh là một phụ nữ xinh đẹp, giỏi võ. Tương truyền, bấy giờ ở quê bà có con voi trắng một ngà rất hung dữ phá phách ruộng nương, làng xóm, cây cối không ai trị nổi. Bà bèn họp các bạn bày mưu, dùng kế lừa voi xuống một bãi đầm lầy, rồi bà nhảy lên đầu voi, dùng búa khuất phục nó. Từ đó voi trở thành người bạn chiến đấu trung thành của bà.
Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà Triệu nói: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người.
Với chí lớn ấy, từ năm 19 tuổi, bà đã cùng anh tập hợp nghĩa sĩ trên đỉnh núi Nưa, ngày đêm mài gươm, luyện tập võ nghệ để chuẩn bị khởi nghĩa. Mùa xuân năm 248, dưới sự cai trị hà khắc, bóc lột nặng nề của nhà Ngô khiến đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, bà Triệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại.
Khởi nghĩa nhanh chóng lan rộng, được nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân hưởng ứng. Đang lúc ấy, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời, Triệu Thị Trinh được tôn lên làm chủ tướng, được nhân dân gọi là Bà Triệu.
Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trắng một ngà và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân. Quân Bà đi đến đâu cũng được dân chúng hưởng ứng, khiến quân thù khiếp sợ.
Để dập tắt cuộc khởi nghĩa, nhà Ngô đã phải cử tướng Lục Dận, mang theo 8.000 quân sang đàn áp. Quân Ngô hơn hẳn quân khởi nghĩa về mặt tổ chức cũng như về mặt vũ khí. Quân khởi nghĩa suy yếu dần và tan vỡ, lực lượng nghĩa quân còn non trẻ, không đủ sức chống lại đạo binh lớn hơn mình gấp bội.
Sau một cuộc bao vây ráo riết của quân giặc, Bà Triệu phải rút về núi Tùng. Bà quỳ xuống vái trời đất và nói : "Sinh vi tướng, tử vi thần" (Sống làm tướng, chết làm thần) Rồi rút gươm tự vẫn vào ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn (248)
Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy thất bại, nhưng đã để lại một dấu son sáng ngời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Để ghi nhớ công lao của Bà Triệu tên của bà đã được đặt tên cho nhiều con đường, con phố ở trên khắp cả nước. Đền thờ chính của Bà Triệu nằm ở thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.