Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng
Trang chủ/Lịch Sử Việt Nam/Nhà Nguyễn (1802-1883)

Nhà Nguyễn (1802-1883)

Cao Bá Quát

Cao Bá Quát

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt





Cao Bá Quát

Sinh : 1808, phủ Thuận An (Bắc Ninh)

Mất : 1855, núi Yên Sơn (Hà Nội)


Cao Bá Quát là tấm gương mẫu mực về tự rèn luyện, học tập để trở thành người tài năng, đức độ, người nổi tiếng văn hay chữ tốt mà người đời tôn ông là “ Thánh Quát ”, “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán”.

Ông tham gia khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn nhưng thất bại, sau khi Cao Bá Quát tử trận còn bị chu di tam tộc.
---------------------------
1. Sơ lược về Cao Bá Quát.

Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường. Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay thuộc thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội.)

Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Năm 1821 ông thi khảo hạch ở trường lúc đó mới 13 tuổi, nhưng thi Hương (lần đầu) không đỗ.

Năm 1831, ông thi Hương đỗ Á Nguyên tại trường thi Hà Nội, nhưng đến khi duyệt quyển, bị Bộ Lễ kiếm cớ xếp xuống cuối bảng xếp ông xuống hạng cuối cùng trong số 20 người đỗ cử nhân.

Năm 1832, Cao Bá Quát vào kinh đô Huế dự thi Hội nhưng không đỗ. Sau đó, ông vào kinh dự thi mấy lần nữa, nhưng lần nào cũng hỏng.

Năm 1841, được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử, Cao Bá Quát được triệu vào kinh đô Huế bổ làm Hành tẩu ở bộ Lễ. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông bàn với bạn đồng sự là Phan Nhạ lấy son hòa với muội đèn chữa lại. Việc bị phát giác, ông bị bắt giam vào ngục Trấn Phủ. Suốt thời gian dài bị giam cầm, ông thường bị nhục hình tra tấn. Nhưng khi án đưa lên, vua Thiệu Trị đã giảm cho ông từ tội "trảm quyết" xuống tội "giảo giam hậu", tức được giam lại đợi lệnh.

Năm 1843, Cao Bá Quát được triều đình tạm tha, nhưng bị phục dịch để lấy công chuộc tội tại Đà Nẵng.

Năm 1844, Cao Bá Quát được phục chức ở bộ Lễ, nhưng chẳng bao lâu thì bị thải về sống với vợ con ở Thăng Long. Thời gian này, những lúc thư nhàn, ông thường xướng họa với các danh sĩ đất Thăng Long như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý, Trần Văn Vi, Diệp Xuân Huyên...

Năm 1847, Cao Bá Quát nhận được lệnh triệu vào Huế làm ở Viện Hàn Lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ.
Năm 1850, do không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát đã bị đầy đi làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây cũ). Đến cuối năm Cao Bá Quát lấy cớ về quê chịu tang cha và sau đó xin ở lại nuôi mẹ già rồi xin thôi chức Giáo thụ ở phủ Quốc Oai.

2. Khởi nghĩa chống nhà Nguyễn.

Năm 1854, nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn, lại bị nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch, đời sống người nhân dân hết sức cực khổ. Cao Bá Quát bèn vận động một số sĩ phu yêu nước, các thổ hào ở các vùng Quốc Oai, Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Lạng Sơn... cùng nhau tôn Lê Duy Cự làm minh chủ chống lại nhà Nguyễn. Cao Bá Quát làm quốc sư, họp với thổ mục Sơn Tây là Đinh Công Mỹ và Bạch Công Trân dựng cờ nổi dậy tại Mỹ Lương, thuộc vùng Sơn Tây chống lại triều đình đương thời.

Đang trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, do có người tố giác nên kế hoạch bị bại lộ. Trước tình thế cấp bách, Cao Bá Quát buộc phải phát lệnh tấn công vào cuối năm 1854. Buổi đầu ông cùng các thổ mục ở Sơn Tây là Đinh Công Mỹ và Bạch Công Trân đem lực lượng đánh phá phủ Ứng Hòa, huyện Thanh Oai, huyện thành Tam Dương, phủ Quốc Oai, Yên Sơn... Tuy giành được một số thắng lợi, nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung phản công thì quân khởi nghĩa liên tiếp bị thất bại.

Năm 1855, Trong một trận giao chiến với quân nhà Nguyễn tại vùng núi Yên Sơn, Cao Bá Quát đã hy sinh cuộc khởi nghĩa sau đó bị đàn áp.
Khi dẹp được cuộc khởi nghĩa, triều đình ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao của ông. Anh trai song sinh của ông là Cao Bá Đạt đang làm Tri huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa và có tiếng là một viên quan mẫn cán và thanh liêm, cũng phải chịu tội và bị giải về kinh đô Huế. Dọc đường, Cao Bá Đạt làm một tờ trần tình gửi triều đình rồi dùng dao đâm cổ tự vẫn.

Ngay sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương (tỉnh Sơn Tây) bị thất bại (1855-1856), các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành, nên đã bị thất lạc không ít. Tuy vậy, trước 1984, nhóm biên soạn sách Thơ văn Cao Bá Quát, đã tìm đến kho sách cổ của Thư viện Khoa học kỹ thuật trung ương (Hà Nội) và sau khi loại trừ những bài chắc chắn không phải của ông, thì số tác phẩm còn sót lại cũng còn được trên ngàn bài được viết bằng thứ chữ Nôm và chữ Hán.

Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo thể truyền kỳ. Trong số này về chữ Nôm, có một số bài hát nói, thơ Đường luật và bài phú Tài tử đa cùng (Bậc tài tử lắm cảnh khốn cùng). Về chữ Hán, khối lượng thơ nhiều hơn, được tập hợp trong các tập:

- Cao Bá Quát thi tập
- Cao Chu Thần di thảo
- Cao Chu Thần thi tập
- Mẫn Hiên thi tập

Câu "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán" có nghĩa là "Văn của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát xuất sắc đến mức thời nhà Hán trước đó không có ai sánh bằng".

Ngày nay, đền thờ chính của Cao Bá Quát là đền thờ ở làng Sủi, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Nơi đây là quê hương của ông và là nơi duy nhất được cho là đền thờ chính thức.





MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗