Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng
Trang chủ/Lịch Sử Việt Nam/Đàng Ngoài - Đàng Trong (1593 – 1778)

Đàng Ngoài - Đàng Trong (1593 – 1778)

Hải Thượng Lãn Ông

Hải Thượng Lãn Ông

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt


Hải Thượng Lãn Ông

Tên thật là Lê Hữu Trác

Sinh : 1724, Liêu Xá (Hưng Yên)

Mất : 1791, Hương Sơn (Hà Tĩnh)


Ông là một danh y, nhà văn, nhà thơ và nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Ông được coi là ông tổ của ngành y học cổ truyền với những đóng góp to lớn, cũng như tư tưởng đạo đức cao cả và lối sống thanh bạch.
Hải Thượng Lãn Ông đã được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới năm 2023.
------------------------------
1. Sơ lược về Lê Hữu Trác.

Lê Hữu Trác vốn có tên là Huân, biểu tự Cẩn Như, bút hiệu Quế Hiên, Thảo Am, Lãn Ông, biệt hiệu cậu Chiêu Bảy, sinh ngày 10 tháng 11 năm Giáp Thìn (1724) tại thôn Văn Xá, hương Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên). Ông là con thứ 7 của tiến sĩ Lê Hữu Mưu và phu nhân Bùi Thị Thưởng

Tuy nhiên, cuộc đời ông phần nhiều (đặc biệt là từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn bó với ở quê mẹ thôn Bàu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Quang Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh).

Ông xuất thân trong gia đình có truyền thống học vấn cao, dòng họ ba đời đều đỗ tiến sĩ, làm những chức quan rất lớn trong triều đình nhà Lê. Do đó, ông tiếp nối gương học tập, học binh thư, võ nghệ, với tương lai về khoa cử và con đường làm quan rất hanh thông. Ông từng thi đỗ tam trường, cầm quân ra trận và thường đánh thắng giặc. 

Chúa Trịnh muốn cất nhắc nhưng ông từ chối, bởi những tâm tư về thời cuộc, đất nước bị phân chia thành Đàng Trong và Đàng Ngoài, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổi dậy, ông nhận ra xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá và mang bao đau thương, làm ông chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên đã nhiều lần từ chối sự đề bạt.

Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, sau khi về quê Hương Sơn, ông bị ốm nặng mất vài năm mới chữa khỏi nhờ lương y Trần Độc - một nho sĩ từ bỏ làm quan quay về nhà làm thuốc.

Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc "Phùng thị cẩm nang" và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc. Đây cũng là người thầy dạy ông những kiến thức ban đầu về chữa bệnh.

Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu "Hải Thượng Lãn Ông". "Hải Thượng" là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xứ Bầu Thượng quê mẹ. "Lãn Ông" nghĩa là "ông lười", ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.

Năm 1756, Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi ở vùng Hoan Châu.

Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn Ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Y tông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ánh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông.

Suốt đời, Hải Thượng Lãn Ông không vương vào vòng danh lợi. Ông có hai câu thơ tỏ chí của mình:
"Công danh trước mắt trôi như nước,
Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương."

Ông qua đời vào ngày 18 tháng 3 năm 1791, tại Bầu Thượng, tỉnh Hà Tĩnh, hưởng thọ 67 tuổi.

Đền thờ chính của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nằm trong quần thể Khu di tích Quốc gia Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ở xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đây lưu giữ mộ phần và nhiều công trình thờ phụng khác..







MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗