Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông là người thành lập nhà Hồ và thực hiện nhiều cải cách trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, và quân sự. Ông đã thay thế triều Trần, đổi tên nước thành Đại Ngu và xây dựng kinh đô mới tại Thanh Hóa. Tuy nhiên, triều đại của ông tồn tại ngắn ngủi (1400-1407) do sự xâm lược của nhà Minh.
-------------------------
1. Sơ lược về Hồ Quý Ly.
Hồ Quý Ly, trước khi đổi sang họ Hồ, có tên là Lê Quý Ly và tên tự là Lý Nguyên. Ông sinh năm 1336, quê ở Đại Lại, Vĩnh Lộc (nay là xã Hà Đông, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Tổ tiên Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật, người gốc Chiết Giang, Trung Quốc, sang sinh sống ở Việt Nam thời Hậu Hán. Ban đầu, ông mang họ Lê do ông nội là Hồ Liêm làm con nuôi Lê Huấn. Đến khi thành lập triều Hồ, ông đổi lại thành họ Hồ.
Thời niên thiếu, Hồ Quý Ly theo học võ, gia nhập chốn quan trường triều Trần sau khi đỗ thi Hương, khoa Hoành từ. Hồ Quý Ly có hai người cô ruột là vợ của vua Trần Minh Tông, một người sinh ra vua Trần Nghệ Tông còn người kia sinh ra Trần Duệ Tông, do đó ông được sự tín nhiệm khi Trần Nghệ Tông lên làm vua. Năm 1372, ông được phong làm Tham mưu quân sự.
Năm 1377, vua Trần Duệ Tông đánh Chiêm Thành bị tử trận, Hồ Quý Ly kinh hãi, bỏ chạy về trước, nhưng vẫn được tha tội. Năm 1380, Hồ Quý Ly làm Thống lĩnh quân Đại Việt để chống lại các đợt tấn công của Chiêm Thành. Năm 1387, ông được phong làm Tể tướng. Từ đó, ông có quyền lực gần như tuyệt đối trong triều, các tông tộc, quan lại trung thành với họ Trần đã có 2 lần chính biến nhằm lật đổ sự thống trị của Quý Ly nhưng ông đều giành chiến thắng và đã có nhiều người bị hành quyết sau đó.
Năm 1395, Hồ Quý Ly giữ chức Phụ chính Thái sư, tức là người giúp vua cai quản triều chính.
Năm 1398, Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông nhường ngôi cho con trai là Trần Án (lúc đó mới 3 tuổi), tức Trần Thiếu Đế. Sau đó, vào năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất Trần Thiếu Đế và tự xưng là vua, đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu (Nghĩa là tốt tươi hưng thịnh) lấy niên hiệu là Thánh Nguyên và xây dựng đế kinh trên đất Tây Đô (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa ngày nay).
Chưa được một năm, ông nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương, làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn tự mình quyết đoán mọi công việc. Về phần Trần Thiếu Đế, do là cháu ngoại nên ông chỉ phế làm Bảo Ninh Đại vương và giam lỏng.
Ông đã đưa ra nhiều chính sách tiến bộ, như phát hành tiền giấy, chuyển kinh đô, xây dựng thành nhà Hồ, và cải cách hệ thống thi cử. Tuy nhiên, những cải cách này còn nhiều điểm chưa hoàn thiện và không được lòng dân, dẫn đến sự sụp đổ của triều đại nhà Hồ.
Vào tháng 6 năm 1407, quân Minh đã bắt được Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương, đánh dấu sự chấm dứt của nhà Hồ sau 7 năm tồn tại. đến ngày 22 tháng 10, 1407 thì ông qua đời tại Quảng Tây, Trung Quốc.
Hồ Quý Ly được thờ cúng tại chùa Cầm Sơn, thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Ngoài ra, còn có các di tích liên quan đến ông như Ly cung Trần Hồ (hay Cung Bảo Thanh) ở xã Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa và Hang Nàng trên núi An Tôn ở xã Vĩnh Yên, Thanh Hóa.
Về điểm đến ↗
Nhà Hồ (1400–1407)
Hồ Quý Ly
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Hồ Quý Ly
Tên thật là Lê Quý Ly
Sinh : 1336, Đại Lại (Thanh Hóa)
Mất : 1407, Quảng Tây (Trung Quốc)
Ông là người thành lập nhà Hồ và thực hiện nhiều cải cách trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, và quân sự. Ông đã thay thế triều Trần, đổi tên nước thành Đại Ngu và xây dựng kinh đô mới tại Thanh Hóa. Tuy nhiên, triều đại của ông tồn tại ngắn ngủi (1400-1407) do sự xâm lược của nhà Minh.
-------------------------
1. Sơ lược về Hồ Quý Ly.
Hồ Quý Ly, trước khi đổi sang họ Hồ, có tên là Lê Quý Ly và tên tự là Lý Nguyên. Ông sinh năm 1336, quê ở Đại Lại, Vĩnh Lộc (nay là xã Hà Đông, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Tổ tiên Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật, người gốc Chiết Giang, Trung Quốc, sang sinh sống ở Việt Nam thời Hậu Hán. Ban đầu, ông mang họ Lê do ông nội là Hồ Liêm làm con nuôi Lê Huấn. Đến khi thành lập triều Hồ, ông đổi lại thành họ Hồ.
Thời niên thiếu, Hồ Quý Ly theo học võ, gia nhập chốn quan trường triều Trần sau khi đỗ thi Hương, khoa Hoành từ. Hồ Quý Ly có hai người cô ruột là vợ của vua Trần Minh Tông, một người sinh ra vua Trần Nghệ Tông còn người kia sinh ra Trần Duệ Tông, do đó ông được sự tín nhiệm khi Trần Nghệ Tông lên làm vua. Năm 1372, ông được phong làm Tham mưu quân sự.
Năm 1377, vua Trần Duệ Tông đánh Chiêm Thành bị tử trận, Hồ Quý Ly kinh hãi, bỏ chạy về trước, nhưng vẫn được tha tội. Năm 1380, Hồ Quý Ly làm Thống lĩnh quân Đại Việt để chống lại các đợt tấn công của Chiêm Thành. Năm 1387, ông được phong làm Tể tướng. Từ đó, ông có quyền lực gần như tuyệt đối trong triều, các tông tộc, quan lại trung thành với họ Trần đã có 2 lần chính biến nhằm lật đổ sự thống trị của Quý Ly nhưng ông đều giành chiến thắng và đã có nhiều người bị hành quyết sau đó.
Năm 1395, Hồ Quý Ly giữ chức Phụ chính Thái sư, tức là người giúp vua cai quản triều chính.
Năm 1398, Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông nhường ngôi cho con trai là Trần Án (lúc đó mới 3 tuổi), tức Trần Thiếu Đế. Sau đó, vào năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất Trần Thiếu Đế và tự xưng là vua, đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu (Nghĩa là tốt tươi hưng thịnh) lấy niên hiệu là Thánh Nguyên và xây dựng đế kinh trên đất Tây Đô (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa ngày nay).
Chưa được một năm, ông nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương, làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn tự mình quyết đoán mọi công việc. Về phần Trần Thiếu Đế, do là cháu ngoại nên ông chỉ phế làm Bảo Ninh Đại vương và giam lỏng.
Ông đã đưa ra nhiều chính sách tiến bộ, như phát hành tiền giấy, chuyển kinh đô, xây dựng thành nhà Hồ, và cải cách hệ thống thi cử. Tuy nhiên, những cải cách này còn nhiều điểm chưa hoàn thiện và không được lòng dân, dẫn đến sự sụp đổ của triều đại nhà Hồ.
Vào tháng 6 năm 1407, quân Minh đã bắt được Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương, đánh dấu sự chấm dứt của nhà Hồ sau 7 năm tồn tại. đến ngày 22 tháng 10, 1407 thì ông qua đời tại Quảng Tây, Trung Quốc.
Hồ Quý Ly được thờ cúng tại chùa Cầm Sơn, thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Ngoài ra, còn có các di tích liên quan đến ông như Ly cung Trần Hồ (hay Cung Bảo Thanh) ở xã Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa và Hang Nàng trên núi An Tôn ở xã Vĩnh Yên, Thanh Hóa.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH