Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông là vị hoàng đế thứ ba của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, lên ngôi khi mới hơn một tuổi và trị vì cho đến khi bị anh trai là Lê Nghi Dân sát hại. Lê Nhân Tông được mô tả là một vị vua thông minh, nhân từ, yêu thương dân, chú trọng phát triển nông nghiệp và thực hiện nhiều chính sách tiến bộ.
--------------------------------------
1. Sơ lược về Lê Nhân Tông.
Ông sinh ngày 28 tháng 5 năm 1441, mất ngày 25 tháng 10 năm 1459, là con trai thứ ba của Lê Thái Tông, mẹ là Tuyên Từ Văn Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh, người làng Bố Vệ huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.
Đầu năm 1441, Hoàng đế Thái Tông lập Nghi Dân (con trưởng) làm Thái tử.,sau việc này Dương Thị Bí (sinh ra Nghi Dân) càng trở nên kiêu ngạo, nhiều lần làm phật ý Thái Tông. Thái Tông giận, bèn giáng Thị Bí xuống làm Chiêu nghi và phế ngôi thái tử của Nghi Dân.
Năm 1441, nhà vua lập Lê Bang Cơ làm Hoàng thái tử, giáng Nghi Dân làm Lạng Sơn vương.
Năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần miền đông đột ngột qua đời ở vườn Vải, huyện Gia Định, khi đó mới 19 tuổi.
Ngày15 tháng 9 năm 1442, các tể tướng, đại thần Lê Khả, Lê Thụ, Lê Xí, Lê Liệt, Lê Bôi lập Lê Bang Cơ lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thái Hòa sử gọi là Lê Nhân Tông.
Do còn nhỏ tuổi, triều đình do Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính. Sau khi vua lớn lên, Thái hậu trả lại quyền hành cho vua vào tháng 11 âm lịch năm 1453.
Lên ngôi lúc còn nhỏ, Lê Nhân Tông tỏ ra là vị hoàng đế anh minh, biết thương dân, sùng kính Nho giáo, xem trọng nghề nông và kính cẩn tông miếu. Ông không có thói đam mê tửu sắc và biết tôn trọng những người có công đối với vương triều.
Lê Nhân Tông còn tỏ ra độ lượng với các công thần khai quốc có tội bị xử tử trước đây, từ thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông đến khi Tuyên Từ Hoàng thái hậu chấp chính. Ngay khi ra cầm chính sự, Nhân Tông ra nhiều chiếu chỉ biểu dương công lao của họ, hoặc trả lại của cải, ruộng đất cho con cháu họ.
Nhân Tông khôi phục lại quan tước và ban cho con cháu Trịnh Khả (bị xử tử năm 1451) 100 mẫu ruộng;, cấp 100 mẫu ruộng cho con cháu Lê Sát và Lê Ngân (bị xử tử năm 1437), trả lại điền sản trước đây cho con cháu Phạm Văn Xảo (bị xử tử năm 1430) và Trần Nguyên Hãn (bị xử tử năm 1429). Nhân Tông biểu dương công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi (bị xử tử năm 1442).
Tuy nhiên, Nhân Tông vẫn chưa minh oan cho Nguyễn Trãi, điều mà Lê Thánh Tông đã làm sau này.
Từ khi bị mất ngôi thái tử, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân vẫn thường có lòng oán hận và muốn thoán đoạt ngôi của Nhân Tông. Các tác giả hiện đại phỏng đoán rằng ngày càng có nhiều người dị nghị về nguồn gốc của Nhân Tông nên càng thúc đẩy Nghi Dân nổi loạn.
Ngày 28 tháng 10 năm 1459, Nghi Dân đang đêm cùng các thủ hạ bắc thang vào tận trong cung cấm giết Lê Nhân Tông. Hôm sau Tuyên Từ Hoàng thái hậu cũng bị hại.
Ngày mồng 7 tháng 10 năm 1459 (âm lịch), Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân lên ngôi Hoàng đế, đại xá, đổi niên hiệu là Thiên Hưng. Ban ân rộng rãi cho các quan văn võ trong ngoài. Lê Nghi Dân lên ngôi Vua, nhưng chỉ tin dùng bọn nịnh thần, thay đổi nhiều pháp chế khiến người người oán giận.
Đến tháng 6 năm 1460, các đại thần như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm đã nổi dậy, bắt và phế truất Lê Nghi Dân rồi trao cho một dải lụa bắt phải thắt cổ tự tử, lúc ấy mới 22 tuổi. Ngày hôm ấy, các đại thần cho đón Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông. Các sử gia thường không coi ông là một vị vua chính thống của nhà Hậu Lê.
Ngày nay, Lăng mộ Vua Lê Nhân Tông nằm ở Lam Kinh, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, là nơi an táng và thờ cúng các vị vua và hoàng thái hậu đầu triều Lê sơ.
Về điểm đến ↗
Nhà Hậu Lê - Lê Sơ (1428–1527)
Lê Nhân Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Lê Nhân Tông
Tên thật là Lê Bang Cơ
Sinh : 1441, Đông Kinh (Thăng Long cũ)
Mất : 1459, Đông Kinh (Hà Nội)
Ông là vị hoàng đế thứ ba của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, lên ngôi khi mới hơn một tuổi và trị vì cho đến khi bị anh trai là Lê Nghi Dân sát hại. Lê Nhân Tông được mô tả là một vị vua thông minh, nhân từ, yêu thương dân, chú trọng phát triển nông nghiệp và thực hiện nhiều chính sách tiến bộ.
--------------------------------------
1. Sơ lược về Lê Nhân Tông.
Ông sinh ngày 28 tháng 5 năm 1441, mất ngày 25 tháng 10 năm 1459, là con trai thứ ba của Lê Thái Tông, mẹ là Tuyên Từ Văn Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh, người làng Bố Vệ huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.
Đầu năm 1441, Hoàng đế Thái Tông lập Nghi Dân (con trưởng) làm Thái tử.,sau việc này Dương Thị Bí (sinh ra Nghi Dân) càng trở nên kiêu ngạo, nhiều lần làm phật ý Thái Tông. Thái Tông giận, bèn giáng Thị Bí xuống làm Chiêu nghi và phế ngôi thái tử của Nghi Dân.
Năm 1441, nhà vua lập Lê Bang Cơ làm Hoàng thái tử, giáng Nghi Dân làm Lạng Sơn vương.
Năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần miền đông đột ngột qua đời ở vườn Vải, huyện Gia Định, khi đó mới 19 tuổi.
Ngày15 tháng 9 năm 1442, các tể tướng, đại thần Lê Khả, Lê Thụ, Lê Xí, Lê Liệt, Lê Bôi lập Lê Bang Cơ lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thái Hòa sử gọi là Lê Nhân Tông.
Do còn nhỏ tuổi, triều đình do Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính. Sau khi vua lớn lên, Thái hậu trả lại quyền hành cho vua vào tháng 11 âm lịch năm 1453.
Lên ngôi lúc còn nhỏ, Lê Nhân Tông tỏ ra là vị hoàng đế anh minh, biết thương dân, sùng kính Nho giáo, xem trọng nghề nông và kính cẩn tông miếu. Ông không có thói đam mê tửu sắc và biết tôn trọng những người có công đối với vương triều.
Lê Nhân Tông còn tỏ ra độ lượng với các công thần khai quốc có tội bị xử tử trước đây, từ thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông đến khi Tuyên Từ Hoàng thái hậu chấp chính. Ngay khi ra cầm chính sự, Nhân Tông ra nhiều chiếu chỉ biểu dương công lao của họ, hoặc trả lại của cải, ruộng đất cho con cháu họ.
Nhân Tông khôi phục lại quan tước và ban cho con cháu Trịnh Khả (bị xử tử năm 1451) 100 mẫu ruộng;, cấp 100 mẫu ruộng cho con cháu Lê Sát và Lê Ngân (bị xử tử năm 1437), trả lại điền sản trước đây cho con cháu Phạm Văn Xảo (bị xử tử năm 1430) và Trần Nguyên Hãn (bị xử tử năm 1429). Nhân Tông biểu dương công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi (bị xử tử năm 1442).
"Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng."
Tuy nhiên, Nhân Tông vẫn chưa minh oan cho Nguyễn Trãi, điều mà Lê Thánh Tông đã làm sau này.
Từ khi bị mất ngôi thái tử, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân vẫn thường có lòng oán hận và muốn thoán đoạt ngôi của Nhân Tông. Các tác giả hiện đại phỏng đoán rằng ngày càng có nhiều người dị nghị về nguồn gốc của Nhân Tông nên càng thúc đẩy Nghi Dân nổi loạn.
Ngày 28 tháng 10 năm 1459, Nghi Dân đang đêm cùng các thủ hạ bắc thang vào tận trong cung cấm giết Lê Nhân Tông. Hôm sau Tuyên Từ Hoàng thái hậu cũng bị hại.
Ngày mồng 7 tháng 10 năm 1459 (âm lịch), Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân lên ngôi Hoàng đế, đại xá, đổi niên hiệu là Thiên Hưng. Ban ân rộng rãi cho các quan văn võ trong ngoài. Lê Nghi Dân lên ngôi Vua, nhưng chỉ tin dùng bọn nịnh thần, thay đổi nhiều pháp chế khiến người người oán giận.
Đến tháng 6 năm 1460, các đại thần như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm đã nổi dậy, bắt và phế truất Lê Nghi Dân rồi trao cho một dải lụa bắt phải thắt cổ tự tử, lúc ấy mới 22 tuổi. Ngày hôm ấy, các đại thần cho đón Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông. Các sử gia thường không coi ông là một vị vua chính thống của nhà Hậu Lê.
Ngày nay, Lăng mộ Vua Lê Nhân Tông nằm ở Lam Kinh, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, là nơi an táng và thờ cúng các vị vua và hoàng thái hậu đầu triều Lê sơ.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH