Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông được biết đến với kiến thức uyên bác và những đóng góp to lớn trong nhiều lĩnh vực, được mệnh danh là "nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến". Ông làm quan dưới triều Lê Trung hưng, trải qua nhiều chức vụ quan trọng, từ Hàn lâm viện, đến các bộ và cả việc đi sứ Trung Quốc.
---------------------------------
1. Sơ lược về Lê Quý Đôn.
Ông sinh ngày 2 tháng 8 năm 1726 tại phường Bích Câu, Thăng Long, việc học hành, làm quan và thực hiện nghiên cứu, sáng tác khoa học chủ yếu cũng tại Thăng Long.
Ông là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (Giáp Thìn, 1721) và làm quan trải đến chức Hình bộ Thượng thư, tước Nghĩa Phái hầu. Mẹ Lê Quý Đôn tên Trương Thị Ích, là con gái thứ ba của Trương Minh Lượng, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn , trải nhiều chức quan, tước Hoằng Phái hầu.
Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn là người ham học, thông minh, có trí nhớ tốt, được người đương thời coi là "thần đồng". Năm lên 5 tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, ông đã học "khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử".
Năm 1743, ông dự thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên) lúc 18 tuổi. Sau khi đỗ Giải nguyên năm 1743, vì không muốn trùng tên với Nguyễn Danh Phương (1690 – 1751), một thủ lĩnh nông dân đang nổi lên chống triều đình, nên ông đã đổi tên là Lê Quý Đôn. Sau đó, ông cưới bà Lê Thị Trang ở phường Bích Câu làm vợ. Bà là con gái thứ 7 của Lê Hữu Kiều, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718).
Tuy đỗ đầu khoa thi Hương, nhưng thi Hội mấy lần ông đều không đỗ. Ông ở nhà dạy học và viết sách trong khoảng 10 năm (1743-1752). Sách Đại Việt thông sử (còn gọi là "Lê triều thông sử") được ông làm trong giai đoạn này. (Kỷ Tỵ, 1749).
Năm 1752, Lê Quý Đôn dự thi Hội và đỗ đầu (Hội nguyên), sau đó tiếp tục dự thi Đình và đỗ Bảng nhãn, tức là đỗ đầu thứ hai sau Trạng nguyên.
Năm 1753, Lê Quý Đôn được bổ làm Thị thư ở Viện Hàn lâm, rồi sung làm Toản tu quốc sử vào mùa xuân năm Giáp Tuất (1754).
Năm 1757, ông được thăng làm Hàn lâm viện Thị giảng. Trong năm này ông viết Quần thư khảo biện.
Năm 1759, vua Lê Ý Tông mất, triều đình cử ông làm Phó sứ, tước Dĩnh Thành bá, để cùng với Trần Huy Mật, Trịnh Xuân Chú cầm đầu phái đoàn sang nhà Thanh (Trung Quốc) báo tang và nộp cống (1760).
Trên đường sang Yên Kinh (nay là Bắc Kinh), Lê Quý Đôn thấy các quan lại nhà Thanh có thói quen gọi đoàn sứ của Đại Việt là "di quan, di mục" (quan lại mọi rợ), ông lên tiếng phản đối, từ đấy họ mới gọi là "An Nam cống sứ". Đặc biệt, khi đến làm lễ ở điện Hồng Lô, Lê Quý Đôn gặp đoàn sứ thần Triều Tiên do Hồng Khải Hi đứng đầu. Sau đó, ông đã làm thơ với họ và cho họ xem ba tác phẩm của mình là Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện và Tiêu Tương bách vịnh. Tài văn chương và ứng đáp của ông làm cho họ phải tôn trọng và phải khen ngợi.
Năm 1762, sau khi trở về nước ông được thăng chức Thừa chỉ Viện Hàn lâm, rồi làm Học sĩ ở Bí thư các để duyệt kỹ sách vở.
Năm1764, ông dâng sớ xin thiết lập pháp chế, vì thấy một số quan lại lúc bấy giờ "đã quá lạm dụng quyền hành, giày xéo lên pháp luật", nhưng không được chúa nghe. Cũng trong năm đó, ông được cử làm Đốc đồng xứ Kinh Bắc, rồi đổi làm Tham chính xứ Hải Dương (Ất Dậu, 1765), song ông dâng sớ không nhận chức và xin về hưu.
Năm 1767, chúa Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi. Nghe theo lời tâu của Nguyễn Bá Lân, chúa cho triệu Lê Quý Đôn về triều, phong làm chức Thị thư, tham gia biên tập quốc sử, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, lên vua Lê Hiển Tông đọc. Tháng 9 năm đó, ông được cử làm Tán lý quân vụ trong đội quân của Nguyễn Phan (tước Phan Phái hầu) đi dẹp cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật ở Thanh Hóa. Năm 1768, ông làm xong bộ Toàn Việt thi lục, dâng lên chúa Trịnh. Năm 1769, ông dâng khải xin lập đồn điền khẩn hoang ở Thanh Hóa.
Năm 1774, chúa Trịnh Sâm thân chinh mang quân đánh Thuận Hóa, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Lưu thủ ở Thăng Long.
Năm 1783, ông nhận lệnh đi làm Hiệp trấn xứ Nghệ An. Ít lâu sau, ông được triệu về triều làm Thượng thư bộ Công.
2. Thành tựu
Lê Quý Đôn để lại một khối lượng trước tác đồ sộ, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau. Các tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như:
- "Đại Việt thông sử" (hay "Lê triều thông sử"): Ghi chép về lịch sử hơn 100 năm của triều Lê, từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng.
- "Phủ biên tạp lục": Ghi chép về tình hình biên giới phía Bắc, các phong tục, tập quán, kinh tế, xã hội của các vùng biên giới.
- "Vân đài loại ngữ": Được coi là "bách khoa thư" đầu tiên của Việt Nam, bao gồm các kiến thức về thiên văn, địa lý, lịch sử, triết học, văn học, âm nhạc, v.v.
- "Kiến văn tiểu lục": Ghi chép về các sự kiện, điển tích, phong tục, tập quán, và các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội.
Lê Quý Đôn được đánh giá là người có kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, từ lịch sử, địa lý, văn hóa, triết học, cho đến nông nghiệp, y học, quân sự.
Trong bối cảnh kiêu binh gây rối, triều chính rối ren, nhân dân đói khổ,... Lê Quý Đôn lâm bệnh nặng. Sau đó, ông xin về quê mẹ là làng Nguyễn Xá (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) để chữa trị, nhưng không khỏi. Ông mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (tức 11 tháng 6 năm 1784), thọ 57 tuổi.
Đền thờ chính của Lê Quý Đôn (hay còn gọi là Từ đường danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn) nằm tại khu lưu niệm nhà bác học Lê Quý Đôn, thuộc thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Về điểm đến ↗
Đàng Ngoài - Đàng Trong (1593 – 1778)
Lê Quý Đôn
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Lê Quý Đôn
Tên thật là Lê Danh Phương
Sinh : 1726, Bích Câu (Thăng Long)
Mất : 1784, làng Nguyên Xá (Hà Nam)
Ông được biết đến với kiến thức uyên bác và những đóng góp to lớn trong nhiều lĩnh vực, được mệnh danh là "nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến". Ông làm quan dưới triều Lê Trung hưng, trải qua nhiều chức vụ quan trọng, từ Hàn lâm viện, đến các bộ và cả việc đi sứ Trung Quốc.
---------------------------------
1. Sơ lược về Lê Quý Đôn.
Ông sinh ngày 2 tháng 8 năm 1726 tại phường Bích Câu, Thăng Long, việc học hành, làm quan và thực hiện nghiên cứu, sáng tác khoa học chủ yếu cũng tại Thăng Long.
Ông là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (Giáp Thìn, 1721) và làm quan trải đến chức Hình bộ Thượng thư, tước Nghĩa Phái hầu. Mẹ Lê Quý Đôn tên Trương Thị Ích, là con gái thứ ba của Trương Minh Lượng, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn , trải nhiều chức quan, tước Hoằng Phái hầu.
Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn là người ham học, thông minh, có trí nhớ tốt, được người đương thời coi là "thần đồng". Năm lên 5 tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, ông đã học "khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử".
Năm 1743, ông dự thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên) lúc 18 tuổi. Sau khi đỗ Giải nguyên năm 1743, vì không muốn trùng tên với Nguyễn Danh Phương (1690 – 1751), một thủ lĩnh nông dân đang nổi lên chống triều đình, nên ông đã đổi tên là Lê Quý Đôn. Sau đó, ông cưới bà Lê Thị Trang ở phường Bích Câu làm vợ. Bà là con gái thứ 7 của Lê Hữu Kiều, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718).
Tuy đỗ đầu khoa thi Hương, nhưng thi Hội mấy lần ông đều không đỗ. Ông ở nhà dạy học và viết sách trong khoảng 10 năm (1743-1752). Sách Đại Việt thông sử (còn gọi là "Lê triều thông sử") được ông làm trong giai đoạn này. (Kỷ Tỵ, 1749).
Năm 1752, Lê Quý Đôn dự thi Hội và đỗ đầu (Hội nguyên), sau đó tiếp tục dự thi Đình và đỗ Bảng nhãn, tức là đỗ đầu thứ hai sau Trạng nguyên.
Năm 1753, Lê Quý Đôn được bổ làm Thị thư ở Viện Hàn lâm, rồi sung làm Toản tu quốc sử vào mùa xuân năm Giáp Tuất (1754).
Năm 1757, ông được thăng làm Hàn lâm viện Thị giảng. Trong năm này ông viết Quần thư khảo biện.
Năm 1759, vua Lê Ý Tông mất, triều đình cử ông làm Phó sứ, tước Dĩnh Thành bá, để cùng với Trần Huy Mật, Trịnh Xuân Chú cầm đầu phái đoàn sang nhà Thanh (Trung Quốc) báo tang và nộp cống (1760).
Trên đường sang Yên Kinh (nay là Bắc Kinh), Lê Quý Đôn thấy các quan lại nhà Thanh có thói quen gọi đoàn sứ của Đại Việt là "di quan, di mục" (quan lại mọi rợ), ông lên tiếng phản đối, từ đấy họ mới gọi là "An Nam cống sứ". Đặc biệt, khi đến làm lễ ở điện Hồng Lô, Lê Quý Đôn gặp đoàn sứ thần Triều Tiên do Hồng Khải Hi đứng đầu. Sau đó, ông đã làm thơ với họ và cho họ xem ba tác phẩm của mình là Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện và Tiêu Tương bách vịnh. Tài văn chương và ứng đáp của ông làm cho họ phải tôn trọng và phải khen ngợi.
Năm 1762, sau khi trở về nước ông được thăng chức Thừa chỉ Viện Hàn lâm, rồi làm Học sĩ ở Bí thư các để duyệt kỹ sách vở.
Năm1764, ông dâng sớ xin thiết lập pháp chế, vì thấy một số quan lại lúc bấy giờ "đã quá lạm dụng quyền hành, giày xéo lên pháp luật", nhưng không được chúa nghe. Cũng trong năm đó, ông được cử làm Đốc đồng xứ Kinh Bắc, rồi đổi làm Tham chính xứ Hải Dương (Ất Dậu, 1765), song ông dâng sớ không nhận chức và xin về hưu.
Năm 1767, chúa Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi. Nghe theo lời tâu của Nguyễn Bá Lân, chúa cho triệu Lê Quý Đôn về triều, phong làm chức Thị thư, tham gia biên tập quốc sử, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, lên vua Lê Hiển Tông đọc. Tháng 9 năm đó, ông được cử làm Tán lý quân vụ trong đội quân của Nguyễn Phan (tước Phan Phái hầu) đi dẹp cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật ở Thanh Hóa. Năm 1768, ông làm xong bộ Toàn Việt thi lục, dâng lên chúa Trịnh. Năm 1769, ông dâng khải xin lập đồn điền khẩn hoang ở Thanh Hóa.
Năm 1774, chúa Trịnh Sâm thân chinh mang quân đánh Thuận Hóa, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Lưu thủ ở Thăng Long.
Năm 1783, ông nhận lệnh đi làm Hiệp trấn xứ Nghệ An. Ít lâu sau, ông được triệu về triều làm Thượng thư bộ Công.
2. Thành tựu
Lê Quý Đôn để lại một khối lượng trước tác đồ sộ, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau. Các tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như:
- "Đại Việt thông sử" (hay "Lê triều thông sử"): Ghi chép về lịch sử hơn 100 năm của triều Lê, từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng.
- "Phủ biên tạp lục": Ghi chép về tình hình biên giới phía Bắc, các phong tục, tập quán, kinh tế, xã hội của các vùng biên giới.
- "Vân đài loại ngữ": Được coi là "bách khoa thư" đầu tiên của Việt Nam, bao gồm các kiến thức về thiên văn, địa lý, lịch sử, triết học, văn học, âm nhạc, v.v.
- "Kiến văn tiểu lục": Ghi chép về các sự kiện, điển tích, phong tục, tập quán, và các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội.
Lê Quý Đôn được đánh giá là người có kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, từ lịch sử, địa lý, văn hóa, triết học, cho đến nông nghiệp, y học, quân sự.
Trong bối cảnh kiêu binh gây rối, triều chính rối ren, nhân dân đói khổ,... Lê Quý Đôn lâm bệnh nặng. Sau đó, ông xin về quê mẹ là làng Nguyễn Xá (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) để chữa trị, nhưng không khỏi. Ông mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (tức 11 tháng 6 năm 1784), thọ 57 tuổi.
Đền thờ chính của Lê Quý Đôn (hay còn gọi là Từ đường danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn) nằm tại khu lưu niệm nhà bác học Lê Quý Đôn, thuộc thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH