Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông là một vị vua nổi tiếng anh minh trong các triều đại phong kiến Việt Nam, được biết đến với nhiều đóng góp quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa và giáo dục.
Ông cũng là người minh oan cho Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi Viên.
-----------------------
1. Sơ lược về Lê Thánh Tông.
Lê Thánh Tông sinh ngày 25 tháng 8 năm 1442, là vị Hoàng đế thứ tư trên danh nghĩa và thứ năm trên thực tế của vương triều Lê Sơ trong lịch sử Việt Nam (Lê Nghi Dân tạo phản cướp ngôi nên các sử gia thời đó không công nhận là hoàng đế chính thống).
Ông là con trai út của Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao (là con của Ngô Từ, một khai quốc công thần của nhà Lê, giúp Lê Lợi từ thủa cơ hàn), người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa.
Ông sinh ở chùa Huy Văn khi phi tần Ngô Thị Ngọc Dao bị vua Lê Thái Tông nghe theo lời xiểm nịnh của Nguyên phi Nguyễn Thị Ngọc Anh (mẹ của Thái tử Bang Cơ – vua Lê Nhân Tông sau này), đã định hãm hại bà Tiệp dư nhưng do có sự tấu trình của vợ chồng Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ nên vua Lê Thái Tông đưa bà ra sống ở chùa Huy Văn.
Bốn tuổi ông được đón vào cung, phong làm Bình Nguyên Vương, từ nhỏ đã được đánh giá là người thông minh, chính trực, ông đã được vua Nhân Tông yêu quý và được dạy dỗ cùng các vương hầu khác.
Ngày 18 tháng 6 âm lịch năm Canh Thìn (1460), Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế tại điện Tường Quang, cải niên hiệu Quang Thuận. Vừa lên ngôi, ông đại xá thiên hạ, xử tử tướng cai quản cấm binh Lê Đắc Ninh vì tiếp tay cho Nghi Dân tạo phản.
Trong thời gian trị vì, Vua Lê Thánh Tông đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, tiêu biểu là:
- Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, phân chia quyền lực rõ ràng, tăng cường sự kiểm soát của trung ương đối với địa phương.
- Ban hành bộ luật Hồng Đức, một bộ luật tiến bộ, toàn diện, thể hiện sự công bằng và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp nhân dân.
- Chú trọng phát triển nông nghiệp, công thương nghiệp, mở mang các đồn điền, khai hoang, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
- Xây dựng quân đội hùng mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, mở rộng bờ cõi về phía Nam.
- Coi trọng việc giáo dục, đào tạo nhân tài, mở trường học, tổ chức các kỳ thi, khuyến khích văn học, nghệ thuật.
Năm 1464 vua Lê Thánh Tông đã ra chiếu chỉ minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá và cho phép con trai ông, Nguyễn Anh Vũ, làm quan. Vụ án Lệ Chi Viên, xảy ra vào năm 1442, đã khiến Nguyễn Trãi và gia đình bị oan khuất, bị nghi là chủ mưu trong cái chết của vua Lê Thái Tông.
Đến năm 1470, ông đổi niên hiệu sang Hồng Đức và kể từ đó, giai đoạn này còn được gọi là Hồng Đức Thịnh Thế (Thời kỳ thịnh trị dưới niên hiệu Hồng Đức).
Ngày 3 tháng 3 năm 1497, Lê Thánh Tông băng hà ở điện Bảo Quang, hưởng dương 54 tuổi. Sau đó được đưa về an táng tại Chiêu Lăng (nằm trong Khu di tích lịch sử Lam Kinh, thuộc địa phận huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa ngày nay.)
Về điểm đến ↗
Nhà Hậu Lê - Lê Sơ (1428–1527)
Lê Thánh Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Lê Thánh Tông
Tên thật là Lê Tư Thành
Sinh : 1442, Chùa Huy Văn (Hà Nội)
Mất : 1497, Đông Kinh (Hà Nội)
Ông là một vị vua nổi tiếng anh minh trong các triều đại phong kiến Việt Nam, được biết đến với nhiều đóng góp quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa và giáo dục.
Ông cũng là người minh oan cho Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi Viên.
-----------------------
1. Sơ lược về Lê Thánh Tông.
Lê Thánh Tông sinh ngày 25 tháng 8 năm 1442, là vị Hoàng đế thứ tư trên danh nghĩa và thứ năm trên thực tế của vương triều Lê Sơ trong lịch sử Việt Nam (Lê Nghi Dân tạo phản cướp ngôi nên các sử gia thời đó không công nhận là hoàng đế chính thống).
Ông là con trai út của Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao (là con của Ngô Từ, một khai quốc công thần của nhà Lê, giúp Lê Lợi từ thủa cơ hàn), người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa.
Ông sinh ở chùa Huy Văn khi phi tần Ngô Thị Ngọc Dao bị vua Lê Thái Tông nghe theo lời xiểm nịnh của Nguyên phi Nguyễn Thị Ngọc Anh (mẹ của Thái tử Bang Cơ – vua Lê Nhân Tông sau này), đã định hãm hại bà Tiệp dư nhưng do có sự tấu trình của vợ chồng Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ nên vua Lê Thái Tông đưa bà ra sống ở chùa Huy Văn.
Bốn tuổi ông được đón vào cung, phong làm Bình Nguyên Vương, từ nhỏ đã được đánh giá là người thông minh, chính trực, ông đã được vua Nhân Tông yêu quý và được dạy dỗ cùng các vương hầu khác.
Ngày 18 tháng 6 âm lịch năm Canh Thìn (1460), Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế tại điện Tường Quang, cải niên hiệu Quang Thuận. Vừa lên ngôi, ông đại xá thiên hạ, xử tử tướng cai quản cấm binh Lê Đắc Ninh vì tiếp tay cho Nghi Dân tạo phản.
Trong thời gian trị vì, Vua Lê Thánh Tông đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, tiêu biểu là:
- Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, phân chia quyền lực rõ ràng, tăng cường sự kiểm soát của trung ương đối với địa phương.
- Ban hành bộ luật Hồng Đức, một bộ luật tiến bộ, toàn diện, thể hiện sự công bằng và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp nhân dân.
- Chú trọng phát triển nông nghiệp, công thương nghiệp, mở mang các đồn điền, khai hoang, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
- Xây dựng quân đội hùng mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, mở rộng bờ cõi về phía Nam.
- Coi trọng việc giáo dục, đào tạo nhân tài, mở trường học, tổ chức các kỳ thi, khuyến khích văn học, nghệ thuật.
Năm 1464 vua Lê Thánh Tông đã ra chiếu chỉ minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá và cho phép con trai ông, Nguyễn Anh Vũ, làm quan. Vụ án Lệ Chi Viên, xảy ra vào năm 1442, đã khiến Nguyễn Trãi và gia đình bị oan khuất, bị nghi là chủ mưu trong cái chết của vua Lê Thái Tông.
Đến năm 1470, ông đổi niên hiệu sang Hồng Đức và kể từ đó, giai đoạn này còn được gọi là Hồng Đức Thịnh Thế (Thời kỳ thịnh trị dưới niên hiệu Hồng Đức).
Ngày 3 tháng 3 năm 1497, Lê Thánh Tông băng hà ở điện Bảo Quang, hưởng dương 54 tuổi. Sau đó được đưa về an táng tại Chiêu Lăng (nằm trong Khu di tích lịch sử Lam Kinh, thuộc địa phận huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa ngày nay.)
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH