Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông là vị vua thứ bảy triều Hậu Lê, ông được miêu tả là một vị vua hiền minh, hiếu học, thích làm điều thiện và đã dẹp yên cuộc nổi loạn của Đoàn Thế Nùng. Tuy nhiên, do bệnh nặng và qua đời sớm.
-----------------------
1. Sơ lược về Lê Túc Tông.
Lê Túc Tông sinh ngày 6 tháng 9 năm1488, là con trai thứ ba nhưng là đích tử của Lê Hiến Tông (Lê Tranh), mẹ là Trang Thuận Hoàng hậu Nguyễn Hoàn, quê ở Bình Lăng, Thiên Thi, Hưng Yên. Lúc Lê Thuần được sinh ra thì vua cha Hiến Tông vẫn còn là thái tử, còn ông nội Lê Thuần là Lê Thánh Tông đang giữ ngôi Hoàng đế.
Năm 1497, Lê Thánh Tông qua đời, thái tử Lê Tranh lên kế vị, tức vua Lê Hiến Tông.
Năm 1498, Lê Thuần làm Hoàng thái tử.
Năm 1504, Lê Hiến Tông qua đời ở điện Đồ Trị, thọ 44 tuổi. Nhà vua có để lại di chiếu cho Lễ bộ Thượng thư Đàm Văn Lễ và Ngự sử đài Đô Nguyễn Quang Bật phụ tá Thái tử Thuần kế ngôi.
Ngày 17 tháng 7 năm 1504, Lê Thuần lên ngôi Hoàng đế. Nhà vua xưng là Tự Hoàng, lấy niên hiệu là Thái Trinh, sử gọi là Lê Túc Tông. Túc Tông lấy ngày sinh làm Thiên minh Thánh tiết và làm lễ tế cáo trời đất, tông miếu.
Thời vua Túc Tông có sự kiện Đoàn Thế Nùng nổi dậy ở Cao Bằng, nhà vua sai quân đi trấn áp. Đoàn Thế Nùng bị bắt giết cùng với hơn 500 thuộc hạ.
Ngày 12 tháng 1 năm 1505, bệnh của Túc Tông trở nặng và qua đời tại điện Hoàng Cực, hưởng dương 16 tuổi, ở ngôi được 6 tháng.
Ngày 22 tháng 1 năm 1505, các đại thần đến điện Hương Minh đón con thứ hai của Lê Hiến Tông là Lê Tuấn lên ngôi, tức Hoàng đế Lê Uy Mục.
Vua Lê Túc Tông được thờ tại Kính Lăng, thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, ở xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Đây là nơi an táng các vị vua đầu thời Lê sơ
Về điểm đến ↗
Nhà Hậu Lê - Lê Sơ (1428–1527)
Lê Túc Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Lê Túc Tông
Tên thật là Lê Thuần
Sinh : 1488, Đông Kinh (Hà Nội)
Mất : 1505, Đông Kinh.
Ông là vị vua thứ bảy triều Hậu Lê, ông được miêu tả là một vị vua hiền minh, hiếu học, thích làm điều thiện và đã dẹp yên cuộc nổi loạn của Đoàn Thế Nùng. Tuy nhiên, do bệnh nặng và qua đời sớm.
-----------------------
1. Sơ lược về Lê Túc Tông.
Lê Túc Tông sinh ngày 6 tháng 9 năm1488, là con trai thứ ba nhưng là đích tử của Lê Hiến Tông (Lê Tranh), mẹ là Trang Thuận Hoàng hậu Nguyễn Hoàn, quê ở Bình Lăng, Thiên Thi, Hưng Yên. Lúc Lê Thuần được sinh ra thì vua cha Hiến Tông vẫn còn là thái tử, còn ông nội Lê Thuần là Lê Thánh Tông đang giữ ngôi Hoàng đế.
Năm 1497, Lê Thánh Tông qua đời, thái tử Lê Tranh lên kế vị, tức vua Lê Hiến Tông.
Năm 1498, Lê Thuần làm Hoàng thái tử.
Năm 1504, Lê Hiến Tông qua đời ở điện Đồ Trị, thọ 44 tuổi. Nhà vua có để lại di chiếu cho Lễ bộ Thượng thư Đàm Văn Lễ và Ngự sử đài Đô Nguyễn Quang Bật phụ tá Thái tử Thuần kế ngôi.
Ngày 17 tháng 7 năm 1504, Lê Thuần lên ngôi Hoàng đế. Nhà vua xưng là Tự Hoàng, lấy niên hiệu là Thái Trinh, sử gọi là Lê Túc Tông. Túc Tông lấy ngày sinh làm Thiên minh Thánh tiết và làm lễ tế cáo trời đất, tông miếu.
Thời vua Túc Tông có sự kiện Đoàn Thế Nùng nổi dậy ở Cao Bằng, nhà vua sai quân đi trấn áp. Đoàn Thế Nùng bị bắt giết cùng với hơn 500 thuộc hạ.
Ngày 12 tháng 1 năm 1505, bệnh của Túc Tông trở nặng và qua đời tại điện Hoàng Cực, hưởng dương 16 tuổi, ở ngôi được 6 tháng.
Ngày 22 tháng 1 năm 1505, các đại thần đến điện Hương Minh đón con thứ hai của Lê Hiến Tông là Lê Tuấn lên ngôi, tức Hoàng đế Lê Uy Mục.
Vua Lê Túc Tông được thờ tại Kính Lăng, thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, ở xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Đây là nơi an táng các vị vua đầu thời Lê sơ
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH