Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông là một trong "Tứ trụ" triều Đinh, một khai quốc công thần có công lớn giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Ông giữ chức Thái sư, cai quản và tu sửa Hoàng thành Thăng Long (tức Đại La) theo hướng Nam, chuẩn bị cho việc dời đô sau này và được xem là người đầu tiên nắm giữ quyền hình pháp ở Việt Nam.
-------------------------
1. Sơ lược về Lưu Cơ.
Thái sư Lưu Cơ sinh ngày 3 tháng Giêng năm 940 ở Tri Hối, châu Đại Hoàng, nay là xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Ông là đồng hương, cùng thế hệ của Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Trịnh Tú từ thuở cờ lau tập trận.
Khi Đinh Bộ Lĩnh phất cờ tụ nghĩa ở động Hoa Lư thuộc Gia Hưng, Gia Viễn ngày nay, Lưu Cơ khi mới ngoài 20 tuổi đã cùng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú sát cánh cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thu giang sơn về một mối. Ông trực tiếp cầm quân đánh dẹp sứ quân Lý Khuê (tức Lý Lãng Công) ở Siêu Loại - Bắc Ninh.
Năm 968, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, sau đó phong Lưu Cơ làm Thái sư Đô hộ phủ, Nguyễn Bặc làm Định quốc công, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Đinh Điền làm Ngoại giáp.
Thái sư Lưu Cơ là vị tướng có tài thao lược, là vị quan đầu triều trông coi hình án, là nhà cai trị giỏi, nhất quán vì độc lập, tự chủ của đất nước. Với tư cách là người giúp Đinh Tiên Hoàng coi sóc đất nước về mặt hình pháp của nhà nước độc lập đầy đủ đầu tiên, ông được ngành Tòa án nhân dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cân nhắc tôn vinh như là ông Tổ của ngành.
Cũng từ năm 971, với tư cách là Thái sư Đô hộ phủ, Lưu Cơ được Đinh Tiên Hoàng giao cai quản thành Đại La và quản lý cả vùng Giao Châu cũ tức Bắc Bộ ngày nay, đóng bản doanh tại thành Đại La, Thủ phủ của Giao Châu. Ông có công lớn trong việc cải tạo, xây dựng thành Đại La (tòa thành của An Nam đô hộ phủ từ thời thuộc Đường) thành tòa thành của nước Đại Cồ Việt độc lập, tự chủ. Từ tòa thành hướng vọng về phía bắc, Lưu Cơ đã cho sửa sang tòa thành hướng về phía nam nơi định đô của Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư.
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ trốn rồi bị Nguyễn Bặc bắt và chém. Người con còn lại của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn được lập làm vua. Lê Hoàn lộng hành, nắm lấy quyền lớn trong triều.
"Tứ trụ" Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ cùng trung thần Phạm Hạp muốn giữ ngôi nhà Đinh cho ấu chúa, nhưng bị Lê Hoàn đánh thua, Đinh Điền, Phạm Hạp chết tại trận, Nguyễn Bặc bị bắt sống đem về chém tại Hoa Lư. Còn Lưu Cơ và Trịnh Tú thì bị phục kích ở Bãi Vàng. Hai ông cùng hai bộ tướng chống cự quyết liệt, giết được bốn tướng của Lê Hoàn, nhưng cuối cùng bị quân đông hơn bao vây tiêu diệt. Thế là hai bên có tám tướng chết ở trận đó. Sau, dân làng Hoa Lư xây " Bát long tự" sát phía đông Bãi Vàng để thờ giải oan cho tám người.
Đền thờ Lưu Cơ được lập ở làng Đại Từ, xã Đại Đồng, Hưng Yên. Tương truyền là nơi ông đóng quân dẹp loạn sứ quân Lý Khuê năm xưa. Lưu Cơ và em trai Lưu Lang cũng được thờ tại Đình Đồng Hạ thuộc địa phận thôn 1, xã Đức Hợp, tỉnh Hưng Yên
Về điểm đến ↗
Nhà Đinh (968 – 980)
Lưu Cơ
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Lưu Cơ
Sinh : 940, Gia Tân (Ninh Bình)
Mất : 979, Sông Hoàng Long (Ninh Bình)
Ông là một trong "Tứ trụ" triều Đinh, một khai quốc công thần có công lớn giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Ông giữ chức Thái sư, cai quản và tu sửa Hoàng thành Thăng Long (tức Đại La) theo hướng Nam, chuẩn bị cho việc dời đô sau này và được xem là người đầu tiên nắm giữ quyền hình pháp ở Việt Nam.
-------------------------
1. Sơ lược về Lưu Cơ.
Thái sư Lưu Cơ sinh ngày 3 tháng Giêng năm 940 ở Tri Hối, châu Đại Hoàng, nay là xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Ông là đồng hương, cùng thế hệ của Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Trịnh Tú từ thuở cờ lau tập trận.
Khi Đinh Bộ Lĩnh phất cờ tụ nghĩa ở động Hoa Lư thuộc Gia Hưng, Gia Viễn ngày nay, Lưu Cơ khi mới ngoài 20 tuổi đã cùng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú sát cánh cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thu giang sơn về một mối. Ông trực tiếp cầm quân đánh dẹp sứ quân Lý Khuê (tức Lý Lãng Công) ở Siêu Loại - Bắc Ninh.
Năm 968, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, sau đó phong Lưu Cơ làm Thái sư Đô hộ phủ, Nguyễn Bặc làm Định quốc công, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Đinh Điền làm Ngoại giáp.
Thái sư Lưu Cơ là vị tướng có tài thao lược, là vị quan đầu triều trông coi hình án, là nhà cai trị giỏi, nhất quán vì độc lập, tự chủ của đất nước. Với tư cách là người giúp Đinh Tiên Hoàng coi sóc đất nước về mặt hình pháp của nhà nước độc lập đầy đủ đầu tiên, ông được ngành Tòa án nhân dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cân nhắc tôn vinh như là ông Tổ của ngành.
Cũng từ năm 971, với tư cách là Thái sư Đô hộ phủ, Lưu Cơ được Đinh Tiên Hoàng giao cai quản thành Đại La và quản lý cả vùng Giao Châu cũ tức Bắc Bộ ngày nay, đóng bản doanh tại thành Đại La, Thủ phủ của Giao Châu. Ông có công lớn trong việc cải tạo, xây dựng thành Đại La (tòa thành của An Nam đô hộ phủ từ thời thuộc Đường) thành tòa thành của nước Đại Cồ Việt độc lập, tự chủ. Từ tòa thành hướng vọng về phía bắc, Lưu Cơ đã cho sửa sang tòa thành hướng về phía nam nơi định đô của Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư.
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ trốn rồi bị Nguyễn Bặc bắt và chém. Người con còn lại của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn được lập làm vua. Lê Hoàn lộng hành, nắm lấy quyền lớn trong triều.
"Tứ trụ" Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ cùng trung thần Phạm Hạp muốn giữ ngôi nhà Đinh cho ấu chúa, nhưng bị Lê Hoàn đánh thua, Đinh Điền, Phạm Hạp chết tại trận, Nguyễn Bặc bị bắt sống đem về chém tại Hoa Lư. Còn Lưu Cơ và Trịnh Tú thì bị phục kích ở Bãi Vàng. Hai ông cùng hai bộ tướng chống cự quyết liệt, giết được bốn tướng của Lê Hoàn, nhưng cuối cùng bị quân đông hơn bao vây tiêu diệt. Thế là hai bên có tám tướng chết ở trận đó. Sau, dân làng Hoa Lư xây " Bát long tự" sát phía đông Bãi Vàng để thờ giải oan cho tám người.
Đền thờ Lưu Cơ được lập ở làng Đại Từ, xã Đại Đồng, Hưng Yên. Tương truyền là nơi ông đóng quân dẹp loạn sứ quân Lý Khuê năm xưa. Lưu Cơ và em trai Lưu Lang cũng được thờ tại Đình Đồng Hạ thuộc địa phận thôn 1, xã Đức Hợp, tỉnh Hưng Yên
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH