Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông là một vị vua anh minh, chăm lo phát triển nông nghiệp, thủy lợi và chú trọng giáo dục, góp phần đưa đất nước thời Lý vào giai đoạn thái bình, thịnh vượng.
Lý Nhân Tông là vị vua tại vị lâu nhất lịch sử Việt Nam, trị vì Đại Việt 55 năm. Triều đại của ông ghi dấu bởi chiến thắng quân Tống xâm lược ở phòng tuyến sông Như Nguyệt nhờ công của Lý Thường Kiệt và sự kiện mở trường Quốc Tử Giám năm 1076, khai sinh nền giáo dục đại học ở nước ta.
-----------------------
1. Sơ lược về Lý Nhân Tông.
Ông có tên húy Lý Càn Đức là con trai trưởng của Lý Thánh Tông và phu nhân Ỷ Lan. Ông sinh giờ Hợi ngày 25 tháng 1 năm Bính Ngọ (22 tháng 2 dương lịch năm 1066), tại cung Động Tiên, kinh đô Thăng Long.
Vua Lý Thánh Tông vốn hiếm muộn con trai, đến năm 43 tuổi mới sinh được Càn Đức. Nhà vua rất vui mừng; chỉ một ngày sau khi hoàng tử sinh ra, Thánh Tông lập Càn Đức làm Hoàng thái tử, đổi niên hiệu thành Long Chương Thiên Tự, đại xá thiên hạ và phong Ỷ Lan làm Thần phi.
Năm 1070, Lý Thánh Tông lập Văn miếu, xây tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối (4 học trò xuất sắc của Khổng Phu Tử) và vẽ tranh Thất thập nhị hiền (72 học trò của Khổng Phu Tử) để hương khói bốn mùa. Nhà vua cho Thái tử Càn Đức học tại đây.
Tháng 1 âm lịch năm 1072, Lý Thánh Tông mất tại điện Hội Tiên. Thái tử Càn Đức 6 tuổi lên ngôi. Ông lấy niên hiệu Thái Ninh, tôn chính cung của vua cha là Thượng Dương Hoàng hậu làm Thái hậu nhiếp chính, cùng với Thái sư Lý Đạo Thành cai quản quốc gia. Ông cũng phong mẹ ruột là Ỷ Lan làm Hoàng thái phi.
Tháng 4 âm lịch năm 1073, Lý Nhân Tông phong người thuộc hàng Đại Liêu Ban là Lý Thường Kiệt làm Kiểm hiệu Thái úy.
Năm 1073, vua Nhân Tông phế truất Thái hậu Thượng Dương, bà bị bức tử cùng 72 cung nữ vào lăng Thánh Tông. Thái sư Lý Đạo Thành cũng bị giáng làm Tả gián nghị Đại phu, trấn thủ châu Nghệ An, khi ông mới 8 tuổi.
Sau khi Thái hậu Thượng Dương chết, Nhân Tông tôn mẹ đẻ là Ỷ Lan làm Thái hậu nhiếp chính, hiệu là Linh Nhân Hoàng thái hậu. Linh Nhân cùng Thái úy Lý Thường Kiệt cai quản quốc gia.
Mùa xuân năm 1074, triều đình phục chức Lý Đạo Thành làm Thái phó bình chương Quân quốc trọng sự. Lý Đạo Thành làm Tể tướng đến khi mất năm 1081.
Khi Nhân Tông lên ngôi, nhà Tống muốn nhân lúc vua Lý còn nhỏ để mang quân đánh chiếm. Nhờ vào khả năng quân sự của Lý Thường Kiệt, nước Đại Việt đã đứng vững trong cuộc chiến với quân đội nhà Tống.
Năm 1075, ngay khi nhà Tống đang tập kết lực lượng ở Ung Châu chuẩn bị tiến sang, Lý Thường Kiệt chủ động mang quân đánh sang đất Tống trước.
Tháng 10 năm 1075, Lý Thường Kiệt chỉ huy 10 vạn quân thủy bộ tấn công. Quân Đại Việt lần lượt hạ thành Khâm Châu, Liêm Châu và cuối cùng là Ung Châu sau 42 ngày vây hãm. Sau khi phá hủy các kho tàng của Tống, Lý Thường Kiệt rút quân về nước để xây dựng phòng tuyến phòng thủ.
Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên ở Việt Nam và chọn những văn thần hay chữ vào giảng dạy. Cùng năm đó, ông ban chiếu cầu lời nói thẳng.
Năm 1076, nhà Tống cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem 30 vạn đại binh sang xâm lược Đại Việt. Quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt đã đánh bại được đội quân nhà Tống xâm lược lần 2 tại trận tuyến trên sông Như Nguyệt.
Năm 1076, Sau khi quân Lý rút về nước, nhà Tống do Quách Quỳ chỉ huy đã huy động đại quân (khoảng 30 vạn người) phản công xâm lược Đại Việt. Quân Tống tiến đến bờ Bắc sông Như Nguyệt và tổ chức nhiều đợt tấn công nhưng đều bị quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đánh bại và tiêu diệt.
Tháng 3 năm 1076, Sau khi bị đánh bại liên tiếp, quân Tống mệt mỏi và hoảng loạn, buộc phải rút quân về nước trong tình cảnh hỗn loạn. Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ 2 kết thúc hoàn toàn thắng lợi, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt.
Bên cạnh việc khuyến khích giáo dục Nho học, Lý Nhân Tông cũng là một Phật tử mộ đạo. Ông và Thái hậu Linh Nhân đã cho dựng nhiều chùa tháp trong nước.
Năm 1117, Nhân Tông theo lời Thái hậu, ra quy định cấm giết trâu bò bừa bãi, ai mổ trộm trâu bị phạt 80 trượng và tội đồ làm người hầu trong quân đội, người giết trâu và ăn trộm trâu đều phải bồi thường, hàng xóm biết mà không tố cáo cũng bị phạt 80 trượng.
Bấy giờ đất nước thường được mùa nhân dân no ấm... còn khi hạn hán mất mùa thì phân phát kho lương, giảm tô dịch, đất nước nhanh chóng cường thịnh. Nhân Tông rất thường hay xem gặt lúa ở các nơi, cũng như xem bắt voi và tham gia các lễ hội,... để tỏ rõ sự cường thịnh của Đại Việt lúc đó.
Ngày 15 tháng 1 năm 1128, nhà vua mất ở điện Vĩnh Quang, ở ngôi 55 năm, thọ 61 tuổi. Ông được tôn miếu hiệu là Nhân Tông, thụy hiệu là Hiếu Thiên Thể Đạo Thánh Văn Thần Vũ Sùng Nhân Ý Nghĩa Hiếu Từ Thuần Thành Minh Hiếu Hoàng Đế.
Ông được thờ ở Đền Đô, còn gọi là đền Lý Bát Đế, tọa lạc tại khu phố Thượng, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây thờ tự 8 vị vua nhà Lý.
Về điểm đến ↗
Nhà Lý (1009–1225)
Lý Nhân Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Lý Nhân Tông
Tên thật là Lý Càn Đức
Sinh : 1066, Cung Động Tiên, Thăng Long (Hà Nội)
Mất : 1128, Điện Vĩnh Quang, Thăng Long (Hà Nội)
Ông là một vị vua anh minh, chăm lo phát triển nông nghiệp, thủy lợi và chú trọng giáo dục, góp phần đưa đất nước thời Lý vào giai đoạn thái bình, thịnh vượng.
Lý Nhân Tông là vị vua tại vị lâu nhất lịch sử Việt Nam, trị vì Đại Việt 55 năm. Triều đại của ông ghi dấu bởi chiến thắng quân Tống xâm lược ở phòng tuyến sông Như Nguyệt nhờ công của Lý Thường Kiệt và sự kiện mở trường Quốc Tử Giám năm 1076, khai sinh nền giáo dục đại học ở nước ta.
-----------------------
1. Sơ lược về Lý Nhân Tông.
Ông có tên húy Lý Càn Đức là con trai trưởng của Lý Thánh Tông và phu nhân Ỷ Lan. Ông sinh giờ Hợi ngày 25 tháng 1 năm Bính Ngọ (22 tháng 2 dương lịch năm 1066), tại cung Động Tiên, kinh đô Thăng Long.
Vua Lý Thánh Tông vốn hiếm muộn con trai, đến năm 43 tuổi mới sinh được Càn Đức. Nhà vua rất vui mừng; chỉ một ngày sau khi hoàng tử sinh ra, Thánh Tông lập Càn Đức làm Hoàng thái tử, đổi niên hiệu thành Long Chương Thiên Tự, đại xá thiên hạ và phong Ỷ Lan làm Thần phi.
Năm 1070, Lý Thánh Tông lập Văn miếu, xây tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối (4 học trò xuất sắc của Khổng Phu Tử) và vẽ tranh Thất thập nhị hiền (72 học trò của Khổng Phu Tử) để hương khói bốn mùa. Nhà vua cho Thái tử Càn Đức học tại đây.
Tháng 1 âm lịch năm 1072, Lý Thánh Tông mất tại điện Hội Tiên. Thái tử Càn Đức 6 tuổi lên ngôi. Ông lấy niên hiệu Thái Ninh, tôn chính cung của vua cha là Thượng Dương Hoàng hậu làm Thái hậu nhiếp chính, cùng với Thái sư Lý Đạo Thành cai quản quốc gia. Ông cũng phong mẹ ruột là Ỷ Lan làm Hoàng thái phi.
Tháng 4 âm lịch năm 1073, Lý Nhân Tông phong người thuộc hàng Đại Liêu Ban là Lý Thường Kiệt làm Kiểm hiệu Thái úy.
Năm 1073, vua Nhân Tông phế truất Thái hậu Thượng Dương, bà bị bức tử cùng 72 cung nữ vào lăng Thánh Tông. Thái sư Lý Đạo Thành cũng bị giáng làm Tả gián nghị Đại phu, trấn thủ châu Nghệ An, khi ông mới 8 tuổi.
Sau khi Thái hậu Thượng Dương chết, Nhân Tông tôn mẹ đẻ là Ỷ Lan làm Thái hậu nhiếp chính, hiệu là Linh Nhân Hoàng thái hậu. Linh Nhân cùng Thái úy Lý Thường Kiệt cai quản quốc gia.
Mùa xuân năm 1074, triều đình phục chức Lý Đạo Thành làm Thái phó bình chương Quân quốc trọng sự. Lý Đạo Thành làm Tể tướng đến khi mất năm 1081.
Khi Nhân Tông lên ngôi, nhà Tống muốn nhân lúc vua Lý còn nhỏ để mang quân đánh chiếm. Nhờ vào khả năng quân sự của Lý Thường Kiệt, nước Đại Việt đã đứng vững trong cuộc chiến với quân đội nhà Tống.
Năm 1075, ngay khi nhà Tống đang tập kết lực lượng ở Ung Châu chuẩn bị tiến sang, Lý Thường Kiệt chủ động mang quân đánh sang đất Tống trước.
Tháng 10 năm 1075, Lý Thường Kiệt chỉ huy 10 vạn quân thủy bộ tấn công. Quân Đại Việt lần lượt hạ thành Khâm Châu, Liêm Châu và cuối cùng là Ung Châu sau 42 ngày vây hãm. Sau khi phá hủy các kho tàng của Tống, Lý Thường Kiệt rút quân về nước để xây dựng phòng tuyến phòng thủ.
Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên ở Việt Nam và chọn những văn thần hay chữ vào giảng dạy. Cùng năm đó, ông ban chiếu cầu lời nói thẳng.
Năm 1076, nhà Tống cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem 30 vạn đại binh sang xâm lược Đại Việt. Quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt đã đánh bại được đội quân nhà Tống xâm lược lần 2 tại trận tuyến trên sông Như Nguyệt.
Năm 1076, Sau khi quân Lý rút về nước, nhà Tống do Quách Quỳ chỉ huy đã huy động đại quân (khoảng 30 vạn người) phản công xâm lược Đại Việt. Quân Tống tiến đến bờ Bắc sông Như Nguyệt và tổ chức nhiều đợt tấn công nhưng đều bị quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đánh bại và tiêu diệt.
Tháng 3 năm 1076, Sau khi bị đánh bại liên tiếp, quân Tống mệt mỏi và hoảng loạn, buộc phải rút quân về nước trong tình cảnh hỗn loạn. Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ 2 kết thúc hoàn toàn thắng lợi, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt.
Bên cạnh việc khuyến khích giáo dục Nho học, Lý Nhân Tông cũng là một Phật tử mộ đạo. Ông và Thái hậu Linh Nhân đã cho dựng nhiều chùa tháp trong nước.
Năm 1117, Nhân Tông theo lời Thái hậu, ra quy định cấm giết trâu bò bừa bãi, ai mổ trộm trâu bị phạt 80 trượng và tội đồ làm người hầu trong quân đội, người giết trâu và ăn trộm trâu đều phải bồi thường, hàng xóm biết mà không tố cáo cũng bị phạt 80 trượng.
Bấy giờ đất nước thường được mùa nhân dân no ấm... còn khi hạn hán mất mùa thì phân phát kho lương, giảm tô dịch, đất nước nhanh chóng cường thịnh. Nhân Tông rất thường hay xem gặt lúa ở các nơi, cũng như xem bắt voi và tham gia các lễ hội,... để tỏ rõ sự cường thịnh của Đại Việt lúc đó.
Ngày 15 tháng 1 năm 1128, nhà vua mất ở điện Vĩnh Quang, ở ngôi 55 năm, thọ 61 tuổi. Ông được tôn miếu hiệu là Nhân Tông, thụy hiệu là Hiếu Thiên Thể Đạo Thánh Văn Thần Vũ Sùng Nhân Ý Nghĩa Hiếu Từ Thuần Thành Minh Hiếu Hoàng Đế.
Ông được thờ ở Đền Đô, còn gọi là đền Lý Bát Đế, tọa lạc tại khu phố Thượng, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây thờ tự 8 vị vua nhà Lý.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH