Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng
Trang chủ/Lịch Sử Việt Nam/Nhà Nguyễn (1802-1883)

Nhà Nguyễn (1802-1883)

Minh Mạng

Minh Mạng

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt


Minh Mạng

Tên thật là Nguyễn Phúc Đảm

Sinh : 1791, làng Tân Lộc (T.p HCM)

Mất : 1841, Kinh Thành Huế.


Ông là vị hoàng đế thứ hai của triều Nguyễn trị vì từ năm 1820 đến năm 1841, được xem là một vị vua năng động, quyết đoán, tinh thông nho học, hiểu biết, coi trọng học vấn và là nhà chính trị, quân sự tài ba, là vị vua có nhiều thành tích nhất của nhà Nguyễn.

Ông đã đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam vào năm 1838, nhằm thể hiện ý chí và khát vọng của nhà Nguyễn về một quốc gia hùng mạnh ở phía Nam, nhưng đến cuối thời ông thì nhà Nguyễn dần suy yếu cả về kinh tế và quân sự.
-----------------
1. Sơ lược về Minh Mạng.

Ông là hoàng tử thứ 4 của vua Gia Long, mẹ là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang. Ông sinh ngày 25 tháng 5 năm 1791 tại làng Tân Lộc, gần Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh), trong lúc đang xảy ra Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn (1787 – 1802).

Ngay từ năm lên 9 tuổi (1800), hoàng tử Đảm đã được vua cha đưa theo ra trận. Ông sẵn tính thông minh, thường được vua cha khuyên nhủ học hành. Năm 14 tuổi (đầu năm 1805), có lần ông trộm lấy thuyền của vua cha đi chơi sông Hương, bị phạt đánh mắng, các thị thần Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt cố sức xin cho nhưng không được. Vua Gia Long sau đó cắt cử Đặng Đức Siêu dạy học, đồng thời sai người ngày ngày vào phủ giám sát việc học của hoàng tử. Từ đó hoàng tử Đảm ngày càng tiến bộ.

Năm 1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hòa để làm quen với việc trị nước. Mặc dù có nhiều đình thần phản đối (đặc biệt là Nguyễn Văn Thành) nhưng vua Gia Long vẫn quyết định chọn Nguyễn Phúc Đảm làm người kế vị. Hoàng tử Đảm vốn là người hay phản đối đạo Gia Tô và không có cảm tình với người Pháp – tư tưởng này giống với Gia Long.

Đầu năm 1820, vua Gia Long qua đời. Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Nguyễn Phước Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng. Bấy giờ ông đã 30 tuổi nên rất am hiểu việc triều chính. Nhiều lần sau buổi chầu, ông cùng một vài quan đại thần ở lại để bàn việc, hoặc hỏi về các sự tích xưa, hoặc hỏi về những nhân vật cùng phong tục các nước khác.

Từ cuối năm 1831, Minh Mạng cho bỏ các dinh, trấn mà thành lập các tỉnh. Năm 1832 cả nước có 31 tỉnh, gồm:

- Bắc Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 13 tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Nguyên.

- Trung Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 11 tỉnh và phủ Thừa Thiên, 11 tỉnh gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận.

-Nam Kỳ (từ này đặt ra từ năm 1834) có 6 tỉnh: Phiên An (năm 1836 đổi tên thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
Năm 1838, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam, với ý nghĩa “nước Nam lớn mạnh”.

Chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn bắt đầu từ thời vua Minh Mạng (1820-1841), từ chối mọi giao lưu với phương Tây, cấm người dân buôn bán với ngoại quốc, khiến Đại Nam dần tụt hậu do không tiếp thu được các thành tựu mới về khoa học kỹ thuật.

Hoàng đế Minh Mệnh là người rất quan tâm đến quân sự quốc phòng, vì vậy quân đội dưới thời ông được tổ chức khá hùng mạnh. Vua cũng thường xuyên cử các đội tàu đi thăm dò, tuần thám các hải đảo kể cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong 20 năm trị vì của Hoàng đế Minh Mệnh, nền kinh tế Việt Nam đã có những thành tựu nhất định, nhiều vùng đất mới được khai khẩn thành . Đặc biệt năm 1839 những người thợ Việt Nam đã đóng thành công chiếc tàu thuỷ chạy bằng hơi nước đầu tiên và sửa chữa được một số tàu thuyền mua của nước ngoài bị hư hỏng.

Theo thống kê từ sử sách và thế phả dòng họ Nguyễn, vua Minh Mạng có rất nhiều vợ, trong số đó có 43 người vợ từng sinh được 142 người con gồm 78 hoàng tử, 64 hoàng nữ.

Ngày 20 tháng 1 năm 1841 tại điện Quang Minh vua Minh Mạng qua đời , hưởng thọ 50 tuổi, an táng tại hiếu lăng (lăng Minh Mạng) tại Huế.
Ngày nay, đền thờ Vua Minh Mạng là một quần thể kiến trúc lăng mộ nằm ở Huế, là nơi an nghỉ và thờ cúng của vị vua thứ hai nhà Nguyễn. Lăng Minh Mạng (hay Hiếu Lăng) được xây dựng trên núi Cẩm Kê, gần ngã ba sông Tả Trạch và Hữu Trạch, nơi hợp lưu thành sông Hương.









MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗