Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ngô Thì Sĩ là một nhà sử học, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời Hậu Lê, ông là người có công lớn cho nền sử học Việt Nam với các tác phẩm như "Việt sử tiêu án", "Đại Việt sử ký tiền biên" góp phần quan trọng vào việc biên soạn sử liệu Việt Nam. Ông cũng là một nhà văn, nhà thơ có phong cách riêng và là người khởi xướng Ngô gia văn phái.
---------------------
1. Sơ lược về Ngô Thì Sĩ.
Ngô Thì Sĩ sinh ngày 15 tháng 10 năm 1726 tại làng Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (sau thuộc tỉnh Hà Đông, và nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội). Ông sinh ra trong một dòng họ lớn ở làng, có nhiều người nổi tiếng hay chữ...
Ông nội ông là Ngô Trân, hiệu Đan Nhạc, là một người nổi tiếng về sức học uyên bác và tài văn chương. Ông là con trưởng Ngô Thì Ức, cũng nổi tiếng hay chữ. Năm 14 tuổi, ông Ức đỗ thứ hai kỳ thi Hương nhưng sau đó hỏng liền hai khoa thi Hội, nên không để chí vào khoa cử nữa. Khi Ngô Thì Sĩ lên 10 tuổi thì ông Ức mất.
Từ 7 đến 11 tuổi, Ngô Thì Sĩ được ông nội rèn dạy. Sau đó ông được cho ra Thăng Long theo học các bậc danh nho như Nghiêm Bá Đĩnh, Nhữ Đình Toản. Năm 1743, Ngô Thì Sĩ thi đỗ Hương tiến (Cử nhân), nhưng bị hỏng khoa thi Hội ngay sau đó.
Năm 1752, Ngô Thì Sĩ lại đi thi Hội, nhưng bị khảo quan Trần Tố đánh hỏng (vì nhầm). Chúa Trịnh Doanh rất tiếc, truất chức của Trần Tố và trao cho Ngô Thì Sĩ chức Thiêm tri Công phiên thẩm ứng vụ.
Năm 1756, nhân đỗ đầu một kỳ thi tuyển người, Ngô Thì Sĩ trở thành một thành viên trong Văn ban của phủ chúa Trịnh, được giao trách nhiệm soạn thảo giấy tờ, và làm Tùy giảng cho con chúa là Thế tử Trịnh Sâm.
Năm 1761, ông được sai tiếp sứ nhà Thanh sang sắc phong và điếu tang Lê Ý Tông.
Năm 1763, ông được cử làm Cấp sự trung Công khoa.
Năm 1764, ông làm Giám sát Ngự sử đạo Sơn Tây, rồi Đốc đồng Thái Nguyên năm 1765.
Năm 1769, ông được về triều; năm sau (1770) làm Tham chính Nghệ An.
Năm 1771, ông coi việc chấm thi ở trường thi Nghệ An, bị Nguyễn Văn Chu, người ở Hà Tĩnh, kiện vì ăn của đút của học trò, bị án "hoàn dân thụ dịch" (nghĩa là trả về làm dân chịu sai dịch) vào năm 1772.
Năm 1774, chúa Trịnh Sâm đi tuần phương Nam, biết ông bị oan, mới có ý cất dùng. Năm 1775, cho triệu ông vào kinh giữ chức Hiệu lý Viện Hàn lâm kiêm Hiệu chính quốc sử, sau đó thăng Thiêm đô ngự sử.
Năm 1777, ông được bổ làm Đốc trấn Lạng Sơn. Trong thời gian ở đây, sau khi ổn định được tình hình địa phương, giúp dân an cư, ông đặt doanh Lộc Mã, dựng đình Kinh lược, sửa sang động Song Tiên, khai thác động Nhị Thanh làm cho nó trở thành một thắng tích.
Ngày 22 tháng 10 năm 1780, ông có việc đi tới Nam Quan. Trên đường về qua động Nhị Thanh, ông vào nghỉ trong động. Khi về đến nhà người mệt nặng và từ trần.
Đền thờ chính của Ngô Thì Sĩ được đặt tại quê nhà của ông ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Sau này dân làng Vĩnh Trại thuộc huyện Thoát Lãng ở giáp động Nhị Thanh (Lạng Sơn) có lập đền thờ ông. Triều Tây Sơn cũng phong tặng ông là Lễ Thượng Thư Văn Dụ Hồng Liệt Đại Vương.
Về điểm đến ↗
Đàng Ngoài - Đàng Trong (1593 – 1778)
Ngô Thì Sĩ
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Ngô Thì Sĩ
Sinh : 1726, Thanh Oai (Hà Nội)
Mất : 1780, động Nhị Thanh (Lạng Sơn)
Ngô Thì Sĩ là một nhà sử học, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời Hậu Lê, ông là người có công lớn cho nền sử học Việt Nam với các tác phẩm như "Việt sử tiêu án", "Đại Việt sử ký tiền biên" góp phần quan trọng vào việc biên soạn sử liệu Việt Nam. Ông cũng là một nhà văn, nhà thơ có phong cách riêng và là người khởi xướng Ngô gia văn phái.
---------------------
1. Sơ lược về Ngô Thì Sĩ.
Ngô Thì Sĩ sinh ngày 15 tháng 10 năm 1726 tại làng Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (sau thuộc tỉnh Hà Đông, và nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội). Ông sinh ra trong một dòng họ lớn ở làng, có nhiều người nổi tiếng hay chữ...
Ông nội ông là Ngô Trân, hiệu Đan Nhạc, là một người nổi tiếng về sức học uyên bác và tài văn chương. Ông là con trưởng Ngô Thì Ức, cũng nổi tiếng hay chữ. Năm 14 tuổi, ông Ức đỗ thứ hai kỳ thi Hương nhưng sau đó hỏng liền hai khoa thi Hội, nên không để chí vào khoa cử nữa. Khi Ngô Thì Sĩ lên 10 tuổi thì ông Ức mất.
Từ 7 đến 11 tuổi, Ngô Thì Sĩ được ông nội rèn dạy. Sau đó ông được cho ra Thăng Long theo học các bậc danh nho như Nghiêm Bá Đĩnh, Nhữ Đình Toản. Năm 1743, Ngô Thì Sĩ thi đỗ Hương tiến (Cử nhân), nhưng bị hỏng khoa thi Hội ngay sau đó.
Năm 1752, Ngô Thì Sĩ lại đi thi Hội, nhưng bị khảo quan Trần Tố đánh hỏng (vì nhầm). Chúa Trịnh Doanh rất tiếc, truất chức của Trần Tố và trao cho Ngô Thì Sĩ chức Thiêm tri Công phiên thẩm ứng vụ.
Năm 1756, nhân đỗ đầu một kỳ thi tuyển người, Ngô Thì Sĩ trở thành một thành viên trong Văn ban của phủ chúa Trịnh, được giao trách nhiệm soạn thảo giấy tờ, và làm Tùy giảng cho con chúa là Thế tử Trịnh Sâm.
Năm 1761, ông được sai tiếp sứ nhà Thanh sang sắc phong và điếu tang Lê Ý Tông.
Năm 1763, ông được cử làm Cấp sự trung Công khoa.
Năm 1764, ông làm Giám sát Ngự sử đạo Sơn Tây, rồi Đốc đồng Thái Nguyên năm 1765.
Năm 1769, ông được về triều; năm sau (1770) làm Tham chính Nghệ An.
Năm 1771, ông coi việc chấm thi ở trường thi Nghệ An, bị Nguyễn Văn Chu, người ở Hà Tĩnh, kiện vì ăn của đút của học trò, bị án "hoàn dân thụ dịch" (nghĩa là trả về làm dân chịu sai dịch) vào năm 1772.
Năm 1774, chúa Trịnh Sâm đi tuần phương Nam, biết ông bị oan, mới có ý cất dùng. Năm 1775, cho triệu ông vào kinh giữ chức Hiệu lý Viện Hàn lâm kiêm Hiệu chính quốc sử, sau đó thăng Thiêm đô ngự sử.
Năm 1777, ông được bổ làm Đốc trấn Lạng Sơn. Trong thời gian ở đây, sau khi ổn định được tình hình địa phương, giúp dân an cư, ông đặt doanh Lộc Mã, dựng đình Kinh lược, sửa sang động Song Tiên, khai thác động Nhị Thanh làm cho nó trở thành một thắng tích.
Ngày 22 tháng 10 năm 1780, ông có việc đi tới Nam Quan. Trên đường về qua động Nhị Thanh, ông vào nghỉ trong động. Khi về đến nhà người mệt nặng và từ trần.
Đền thờ chính của Ngô Thì Sĩ được đặt tại quê nhà của ông ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Sau này dân làng Vĩnh Trại thuộc huyện Thoát Lãng ở giáp động Nhị Thanh (Lạng Sơn) có lập đền thờ ông. Triều Tây Sơn cũng phong tặng ông là Lễ Thượng Thư Văn Dụ Hồng Liệt Đại Vương.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH