Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Nguyễn Phúc Lan còn được gọi là Chúa Thượng, vị chúa Nguyễn thứ ba của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam. Một trong những sự kiện nổi bật dưới thời Nguyễn Phúc Lan là chiến thắng trước quân Hà Lan vào năm 1643. Đây là lần đầu tiên quân thủy của Việt Nam đánh bại một lực lượng thủy quân từ châu Âu.
-----------------------------
1. Sơ lược về Nguyễn Phúc Lan
Nguyễn Phúc Lan sinh ngày 13 tháng 8 năm 1601, còn được gọi là Nguyễn Thần Tông, Chúa Thượng là vị chúa Nguyễn thứ ba của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam.
Nguyễn Phúc Lan là con trai thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, mẹ là Mạc Thị Giai (con gái của tướng Mạc Kính Điển, hoàng thân nhà Mạc).
Năm 1631, công tử trưởng Phúc Kỳ mất, ông được lập làm Thế tử.
Năm 1635, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, ông vâng lời di chúc, các quan tôn ông làm Tiết Chế Thủy Bộ Chư Dinh kiêm Tổng Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái Bảo Nhân Quận Công. Lúc ấy ông đã 35 tuổi. Thời bấy giờ gọi là Chúa Thượng.
Sau khi chúa Sãi chết, em trai của ông là Nguyễn Phúc Anh đang là Trấn thủ Quảng Nam, nghe tin anh lên ngôi liền bí mật đầu hàng chúa Trịnh, cho đắp lũy Cu Đê để cố thủ, bày thủy quân ở Đà Nẵng chống lại chúa. Chúa cho mời chú của mình là Tường Quận công Nguyễn Phúc Khê vào bàn. Ông Khê cứng rắn, quyết đánh không nhân nhượng, xin ông đặt phép nước lên tình nhà rồi cùng Nguyễn Phúc Yên kéo quân vào đánh, bắt được Anh, lấy nghĩa "Anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn", rồi đem đi xử tử.
Năm 1636, ông cho dời phủ từ làng Phước Yên (Quảng Điền, Thừa Thiên) qua làng Kim Long (Hương Trà, Thừa Thiên).
Phủ Kim Long rộng rãi, phong cảnh hài hòa đẹp mắt, phủ Chúa và nhà quan lại còn lan ra các làng chung quanh. Kim Long đã mang lại nhiều lợi ích cho nền thương mại trong thời. Các thuyền buôn từ Hội An, Trung Hoa ghé Thuận An đi dọc theo sông Hương lên Huế. Nhờ đó mà phẩm vật của người Âu và Trung Hoa (tơ sống, thuốc Bắc, bút chì...đều được mang bán tại Huế. Khách phương xa ghé đến Kim Long không khỏi ngạc nhiên khí thấy cảnh tượng huy hoàng của phủ Chúa và các nhà quan lại. Mỗi khi ông ngự đi đâu đều có hơn hai nghìn thị vệ theo hầu, cờ xí rợp trời, oai vệ khác thường.
Tháng 2 năm 1643, Chúa Trịnh Tráng sai thái bảo Trịnh Tạc, Trịnh Đệ đem đại quân đánh Nam Bố Chính. Quân Trịnh ồ ạt tiến công giết chết tướng quân Nguyễn là Bùi Công Thắng, chiếm được Nam Bố Chính, tiến lên đóng ở cửa Nhật Lệ. Tháng 4, chúa Trịnh sai Trịnh Đào đánh lũy Trung Hòa. Quân Nguyễn phòng thủ vững chắc, Trịnh Đào không hạ được lũy. Lại gặp lúc mùa hè, khí hậu oi bức, quân Trịnh bị bệnh nhiều nên chúa Trịnh đành ra lệnh lui quân.
Tháng 6 năm 1644, theo đề nghị của chúa Trịnh, ba tàu chiến Hà Lan là Wojdenes (De Wijdeness), Waterhond và Vos tiến vào cửa Thuận An đánh chúa Nguyễn. Thế tử Nguyễn Phúc Tần chưa được lệnh của cha đã chỉ huy khoảng hơn 50 tàu đột kích bất ngờ. Tàu đô đốc Wijdenes, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Pieter Baek không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu, Pieter Baek và nhiều thủy thủ đã bị chết. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc.
Khi hay tin Nguyễn Phúc Tần ra biển một mình, chúa thượng rất lo lắng, liền tự mình chỉ huy binh thuyền đi tiếp ứng. Vừa tới cửa biển, từ xa trông thấy khói đen bốc cao mịt mù, chúa ra lệnh cho thủy binh tiến lên. Đến khi được tin thắng trận, chúa mừng lắm, kéo quân về hải đình chờ đợi đoàn thủy binh thắng trận trở về.
Năm 1646, ông sai tổ chức khoa thi Chính đồ và Hoa văn nhằm tuyển chọn nhân tài ra cứu giúp nước (đây là khoa thi đầu tiên của Đàng Trong).
Năm 1648, Trịnh Tráng sai Tiến Quận Công Lê Văn Hiểu khởi binh nam tiến, dẫn bộ binh tiến lên đóng ở đất Nam Bố Chính, còn thủy quân đánh cửa Nhật Lệ. Quân Nguyễn ra chống lại bị bất lợi, Cai đội Trương Triều Lương và Trương Triều Nghị tử trận. Quân Trịnh bèn tiến đánh dinh Quảng Bình.
Chúa Phúc Lan và thế tử Phúc Tần mang quân cứu viện ra Quảng Bình. Chúa Phúc Lan thân đốc đại binh, đóng trại ở xã Trung Chi, thủy quân phục sẵn ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang 100 con voi đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm, quân bộ tiếp sau vào đánh phá. Quân Trịnh thua lớn, bị thủy quân Nguyễn chặn đánh chạy đến tận sông Lam mới thôi.
Ngày 19 tháng 3 năm 1648, chúa Nguyễn mất thọ 46 tuổi. Con trai ông là Nguyễn Phúc Tần lên kế nghiệp, tức Hiền vương.
Ngày nay, Thái Miếu là nơi thờ chung các chúa Nguyễn bao gồm cả Nguyễn Phúc Lan.
Về điểm đến ↗
Đàng Ngoài - Đàng Trong (1593 – 1778)
Nguyễn Phúc Lan
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Nguyễn Phúc Lan
Sinh : 1601, Tống Sơn (Thanh Hóa)
Mất : 1648, Tam Giang (Huế)
Nguyễn Phúc Lan còn được gọi là Chúa Thượng, vị chúa Nguyễn thứ ba của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam. Một trong những sự kiện nổi bật dưới thời Nguyễn Phúc Lan là chiến thắng trước quân Hà Lan vào năm 1643. Đây là lần đầu tiên quân thủy của Việt Nam đánh bại một lực lượng thủy quân từ châu Âu.
-----------------------------
1. Sơ lược về Nguyễn Phúc Lan
Nguyễn Phúc Lan sinh ngày 13 tháng 8 năm 1601, còn được gọi là Nguyễn Thần Tông, Chúa Thượng là vị chúa Nguyễn thứ ba của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam.
Nguyễn Phúc Lan là con trai thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, mẹ là Mạc Thị Giai (con gái của tướng Mạc Kính Điển, hoàng thân nhà Mạc).
Năm 1631, công tử trưởng Phúc Kỳ mất, ông được lập làm Thế tử.
Năm 1635, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, ông vâng lời di chúc, các quan tôn ông làm Tiết Chế Thủy Bộ Chư Dinh kiêm Tổng Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái Bảo Nhân Quận Công. Lúc ấy ông đã 35 tuổi. Thời bấy giờ gọi là Chúa Thượng.
Sau khi chúa Sãi chết, em trai của ông là Nguyễn Phúc Anh đang là Trấn thủ Quảng Nam, nghe tin anh lên ngôi liền bí mật đầu hàng chúa Trịnh, cho đắp lũy Cu Đê để cố thủ, bày thủy quân ở Đà Nẵng chống lại chúa. Chúa cho mời chú của mình là Tường Quận công Nguyễn Phúc Khê vào bàn. Ông Khê cứng rắn, quyết đánh không nhân nhượng, xin ông đặt phép nước lên tình nhà rồi cùng Nguyễn Phúc Yên kéo quân vào đánh, bắt được Anh, lấy nghĩa "Anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn", rồi đem đi xử tử.
Năm 1636, ông cho dời phủ từ làng Phước Yên (Quảng Điền, Thừa Thiên) qua làng Kim Long (Hương Trà, Thừa Thiên).
Phủ Kim Long rộng rãi, phong cảnh hài hòa đẹp mắt, phủ Chúa và nhà quan lại còn lan ra các làng chung quanh. Kim Long đã mang lại nhiều lợi ích cho nền thương mại trong thời. Các thuyền buôn từ Hội An, Trung Hoa ghé Thuận An đi dọc theo sông Hương lên Huế. Nhờ đó mà phẩm vật của người Âu và Trung Hoa (tơ sống, thuốc Bắc, bút chì...đều được mang bán tại Huế. Khách phương xa ghé đến Kim Long không khỏi ngạc nhiên khí thấy cảnh tượng huy hoàng của phủ Chúa và các nhà quan lại. Mỗi khi ông ngự đi đâu đều có hơn hai nghìn thị vệ theo hầu, cờ xí rợp trời, oai vệ khác thường.
Tháng 2 năm 1643, Chúa Trịnh Tráng sai thái bảo Trịnh Tạc, Trịnh Đệ đem đại quân đánh Nam Bố Chính. Quân Trịnh ồ ạt tiến công giết chết tướng quân Nguyễn là Bùi Công Thắng, chiếm được Nam Bố Chính, tiến lên đóng ở cửa Nhật Lệ. Tháng 4, chúa Trịnh sai Trịnh Đào đánh lũy Trung Hòa. Quân Nguyễn phòng thủ vững chắc, Trịnh Đào không hạ được lũy. Lại gặp lúc mùa hè, khí hậu oi bức, quân Trịnh bị bệnh nhiều nên chúa Trịnh đành ra lệnh lui quân.
Tháng 6 năm 1644, theo đề nghị của chúa Trịnh, ba tàu chiến Hà Lan là Wojdenes (De Wijdeness), Waterhond và Vos tiến vào cửa Thuận An đánh chúa Nguyễn. Thế tử Nguyễn Phúc Tần chưa được lệnh của cha đã chỉ huy khoảng hơn 50 tàu đột kích bất ngờ. Tàu đô đốc Wijdenes, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Pieter Baek không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu, Pieter Baek và nhiều thủy thủ đã bị chết. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc.
Khi hay tin Nguyễn Phúc Tần ra biển một mình, chúa thượng rất lo lắng, liền tự mình chỉ huy binh thuyền đi tiếp ứng. Vừa tới cửa biển, từ xa trông thấy khói đen bốc cao mịt mù, chúa ra lệnh cho thủy binh tiến lên. Đến khi được tin thắng trận, chúa mừng lắm, kéo quân về hải đình chờ đợi đoàn thủy binh thắng trận trở về.
Năm 1646, ông sai tổ chức khoa thi Chính đồ và Hoa văn nhằm tuyển chọn nhân tài ra cứu giúp nước (đây là khoa thi đầu tiên của Đàng Trong).
Năm 1648, Trịnh Tráng sai Tiến Quận Công Lê Văn Hiểu khởi binh nam tiến, dẫn bộ binh tiến lên đóng ở đất Nam Bố Chính, còn thủy quân đánh cửa Nhật Lệ. Quân Nguyễn ra chống lại bị bất lợi, Cai đội Trương Triều Lương và Trương Triều Nghị tử trận. Quân Trịnh bèn tiến đánh dinh Quảng Bình.
Chúa Phúc Lan và thế tử Phúc Tần mang quân cứu viện ra Quảng Bình. Chúa Phúc Lan thân đốc đại binh, đóng trại ở xã Trung Chi, thủy quân phục sẵn ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang 100 con voi đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm, quân bộ tiếp sau vào đánh phá. Quân Trịnh thua lớn, bị thủy quân Nguyễn chặn đánh chạy đến tận sông Lam mới thôi.
Ngày 19 tháng 3 năm 1648, chúa Nguyễn mất thọ 46 tuổi. Con trai ông là Nguyễn Phúc Tần lên kế nghiệp, tức Hiền vương.
Ngày nay, Thái Miếu là nơi thờ chung các chúa Nguyễn bao gồm cả Nguyễn Phúc Lan.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH