Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng
Trang chủ/Lịch Sử Việt Nam/Thời Kỳ Pháp Thuộc (1883–1945)

Thời Kỳ Pháp Thuộc (1883–1945)

Nhà Nguyễn dưới thời Pháp thuộc

Nhà Nguyễn dưới thời Pháp thuộc

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt






Nhà Nguyễn bị Pháp thuộc hóa từ 1858, khi quân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng đến 1884 với Hiệp ước Giáp Thân, Pháp chính thức thiết lập chế độ bảo hộ trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và chấm dứt khi Bảo Đại thoái vị vào ngày 30 tháng 8 năm 1945. Trong giai đoạn này, nhà Nguyễn chỉ còn là chính quyền bù nhìn dưới sự cai trị của Pháp.


𝐃𝐮̣𝐜 Đ𝐮̛́𝐜 (𝟑 𝐧𝐠𝐚̀𝐲, 𝟏𝟖𝟖𝟑): năm 1883, vua Tự Đức mất vì vua không có con nối dỗi nên đã nhận 3 người cháu làm con nuôi. Thái tử Nguyễn Phúc Ưng Chân lên thay nhưng chỉ sau 3 ngày đã bị phế truất.

𝐇𝐢𝐞̣̂𝐩 𝐇𝐨̀𝐚 (𝟔 𝐭𝐡𝐚́𝐧𝐠, 𝟏𝟖𝟖𝟑): sau khi phế Dục Đức, 2 quan phụ chính là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã cho đón con thứ của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Hồng Dật lên ngôi, tức Hiệp Hòa. Nhưng do lập trường của Hiệp Hòa và 2 quan phụ chính trái ngược nhau nên vua chỉ ở ngôi được 6 tháng thì bị phế.

𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 (𝟏𝟖𝟖𝟑 – 𝟏𝟖𝟖𝟒): sau khi phế Hiệp Hòa, người con thứ 3 của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Ưng Đăng lên ngôi, tức Kiến Phúc. Sau 8 tháng ở ngôi vua, Kiến Phúc đã lâm bệnh nặng và mất khi mới 15 tuổi.

𝐇𝐚̀𝐦 𝐍𝐠𝐡𝐢 (𝟏𝟖𝟖𝟒 – 𝟏𝟖𝟖𝟓): sau khi vua Kiến Phúc mất, 2 quan phụ chính lại đưa em của Kiến Phúc là Nguyễn Phúc Ưng Lịch lên ngôi lúc 13 tuổi, tức Hàm Nghi. Ông tuy nhỏ tuổi nhưng đã nhận thức rất sâu sắc về nỗi đau đất nước. Khi bi Pháp vay hãm, ông đã 2 lần ra chiếu Cần Vương. Ông là tấm gương sáng cho dân tộc.

Đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐊𝐡𝐚́𝐧𝐡 (𝟏𝟖𝟖𝟓 – 𝟏𝟖𝟖𝟖): năm 1885, vua Hàm Nghi thoát ly triều đình, kéo cờ khởi nghĩa, ra chiếu Cần Vương, tập hợp lực lượng để chống Pháp. Thống tướng người Pháp De Courcy xin ý kiến của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ để lập người con nuôi khác của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ lên ngôi, tức Đồng Khánh.

𝐓𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐓𝐡𝐚́𝐢 (𝟏𝟖𝟖𝟗 – 𝟏𝟗𝟎𝟕): năm 1889, vua Đồng Khánh bị bệnh qua đời, Tổng sứ Trung Bắc Kỳ chọn Nguyễn Phúc Bửu Lân là con vua Dục Đức lên nối ngôi, tức Thành Thái. Ông là người có suy nghĩ tiến bộ, thời đại lại là người có ý thức dân tộc rất cao nên không được lòng người Pháp.

𝐃𝐮𝐲 𝐓𝐚̂𝐧 (𝟏𝟗𝟎𝟕 – 𝟏𝟗𝟏𝟔): năm 1907, chính phủ Pháp nhận thấy vua Thành Thái là người có ý thức dân tộc cao nên đã cho tung tin vua bị bệnh “thần kinh” và đưa đi lưu đày. Con nhỏ của vua Thành Thái là Nguyễn Phúc Vĩnh San được đưa lên ngôi khi 8 tuổi, tức Duy Tân. Càng lớn, cũng giống như cha mình, vua ý thức được vận mệnh của đất nước, của dân tộc. Vua đã từng dự định cùng khởi nghĩa với Việt Nam Quang Phục Hội của Trần Cao Vân nhưng sự việc chưa tiến hành thì đã bị lộ.

𝐊𝐡𝐚̉𝐢 Đ𝐢̣𝐧𝐡 (𝟏𝟗𝟏𝟔 – 𝟏𝟗𝟐𝟓): năm 1916, Pháp buộc tội vua Duy Tân và đưa đi lưu đày. Người Pháp đã chọn Nguyễn Phúc Bửu Đảo là con trưởng vua Đồng Khánh lên ngôi, tức Khải Định. Khải Định là người ương hèn, nhu nhược, chỉ lo ăn chơi, lại luôn nịnh bợ người Pháp nên rất được lòng nhà cầm quyền Pháp bấy giờ.

𝐁𝐚̉𝐨 Đ𝐚̣𝐢 (𝟏𝟗𝟐𝟔 – 𝟏𝟗𝟒𝟓): năm 1925, Khải Định mất. Năm 1926 Bảo Đại lên ngôi vua. Năm 1945, sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Bảo Đại chính thức thoái vị, trao ấn tín và kiếm bạc nạm ngọc cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chính thức trở thành “công dân Vĩnh Thụy”. Ông là vị hoàng đế cuối cùng của triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam.








MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗