Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng
Trang chủ/Lịch Sử Việt Nam/Nhà Nước Văn Lang (2879 - 258 TCN)

Nhà Nước Văn Lang (2879 - 258 TCN)

Nhà Nước Văn Lang

Nhà Nước Văn Lang

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt


𝐍𝐡𝐚̀ 𝐍𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐕𝐚̆𝐧 𝐋𝐚𝐧𝐠


Truyền thuyết kể lại rằng vua Hùng bắt đầu từ thời xã hội Văn Lang tồn tại. Đứng đầu nước Văn Lang là các thủ lĩnh tối cao, được biết đến với tôn hiệu Hùng Vương. Hùng Vương đồng thời là người chỉ huy quân sự, chủ trì các nghi lễ tôn giáo, đóng đô tại Phong Châu (Phú Thọ ngày nay).

Nhà nước Văn Lang trải qua sự cai trị của 18 đời vua Hùng kéo dài trong 2.622 năm gồm:
1. Kinh Dương Vương - vị vua viễn tổ.
2. Lạc Long Quân - vị vua cao tổ.
3. Hùng Quốc Vương - vị vua mở nước.
4. Hùng Diệp Vương - Bảo Lang.
5. Hùng Huy Vương - Viên Lang.
6. Hùng Huy Vương (cùng hiệu với đời thứ 5) huý Pháp Hải Lang.
7. Hùng Chiêu Vương - Lang Tiên Lang.
8. Hùng Vi Vương - Thừa Vân Lang.
9. Hùng Duy Vương - Quốc Lang.
10. Hùng Uy Vương Vương - Hùng Hải Lang.
11. Hùng Chính Vương - Hùng Đức Lang.
12. Hùng Việt Vương - Đức Hiền Lang.
13. Hùng Việt Vương - Tuấn Lang.
14. Hùng Anh Vương - Châu Nhân Lang.
15. Hùng Chiêu Vương - Cảnh Chân Lang.
16. Hùng Tạo Vương - Đức Quân Lang.
17. Hùng Nghị Vương - Bảo Quang Lang.
18. Hùng Duệ Vương - Huệ Lang.

Tổ chức
Một số quan điểm coi nhà nước Văn Lang là một tổ chức "siêu làng", mạnh về tính liên kết, yếu về tính giai cấp.
Đứng đầu nhà nước là Hùng Vương (hoặc Lạc Vương), dưới có các quan Lạc Hầu (văn) và Lạc Tướng (võ) cai quản các bộ (15 bộ). Dưới nữa là các quan Bồ Chính cai quản từng khu vực nhỏ (làng). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương. Tôi tớ nữ gọi là xảo, nam gọi là xứng, kẻ bề dưới gọi là hôn.

Kinh tế : Nhà nước Văn Lang đã có những sự chuyển biến về kinh tế được xác định qua khảo cổ học gồm:
- Hoạt động khai thác (săn bắt lợn rừng, đánh cá...) đã lùi về thứ yếu
- Nghề trồng lúa nước giữ vị thế chủ đạo
- Nghề đúc đồng rất thành thạo
- Nghề luyện sắt đã phát triển
- Các nghề thủ công như đan, dệt, mộc, gốm đều có để đáp ứng nhu cầu cuộc sống.

Văn hóa, Ẩm thực :
- Bánh chưng và bánh giầy: phổ biến qua sự tích Lang Liêu , làm từ lá dong, gạo nếp, đỗ xanh và thịt lợn, bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất, bánh giầy hình tròn tượng trưng cho Trời.
- Gói đất: là phong tục kết hôn trước khi có sự tích trầu cau, theo Lĩnh Nam chích quái: "việc hôn thú giữa nam nữ lấy gói đất làm đầu, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân". Hiện nay ở vùng Lập Thạch, Vĩnh Phúc vẫn còn tục ăn đất. Đó là những miếng đá non màu trắng, được đào từ độ sâu 5-20 m. Ban đầu là những tảng xám nâu mùi bùn, sau đó chặt nhỏ, đem phơi khô và nướng rồi thưởng thức.
- Rượu nếp và cơm lam: "Đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm" và "lấy cốt gạo làm rượu". Ngoài ra còn có các gia vị như: muối làm từ rễ gừng, mắm làm từ cá tôm...

Phong tục :
- Xăm mình: khi từ rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên người Việt có tục xăm những hình thủy quái trên cơ thể. Tục này tới đời vua Trần Anh Tông thì không còn bắt buộc nữa và sau đó thì mất dần.
- Tính cộng đồng: theo Lĩnh Nam chích quái khi "trong nhà có người chết thì giã cối làm lệnh, để người lân cận nghe tiếng đến cứu giúp". Theo Lịch triều thì "vua tôi cùng đi cày, cha con tắm chung sông không chia giới hạn, không phân biệt uy quyền, thứ bậc"





MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗