Ký Ức Người Lính
Nhật ký Đặng Thùy Trâm - Một số trích đoạn ngắn
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Đặng Thùy Trâm
Sinh : 1942, Huế.
Mất : 1970, Quảng Ngãi.
Đặng Thùy Trâm là một nữ bác sĩ, hy sinh trong một trận càn quét của quân Mỹ khi đang trên đường công tác khi mới 27 tuổi. Cuộc đời và tấm gương của chị đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho nhiều thế hệ qua cuốn sách "Nhật ký Đặng Thùy Trâm". Ghi lại những trải nghiệm, cảm xúc và suy tư của một nữ bác sĩ trẻ trên chiến trường, đặc biệt là những khó khăn, gian khổ, và tình yêu thương đồng bào, đồng chí.
------------------
1. Sơ lược về Đặng Thùy Trâm.
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942 ở Huế, nhưng lớn lên tại Hà Nội trong một gia đình giàu tri thức. Bố chị là ông Đặng Ngọc Khuê, bác sĩ ngoại khoa, mẹ chị là bà Doãn Ngọc Trâm, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội. Đặng Thùy Trâm là chị cả, dưới còn ba em gái và một em trai, cả chị và ba người em đều mang tên giống mẹ và chỉ khác nhau tên đệm (Đặng Phương Trâm, Đặng Hiền Trâm, Đặng Kim Trâm), cho nên bạn bè và người thân đều gọi Thùy Trâm là "Thùy" để phân biệt. Chị từng là học sinh của Trường Chu Văn An, Hà Nội và là giọng ca xuất sắc của trường Chu Văn An và Đại học Y Hà Nội.
Năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3 năm 1967, chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh xá dân sự nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.
Hài cốt của chị được nhân dân địa phương mai táng tại nơi hy sinh và luôn hương khói. Sau chiến tranh, mộ của chị được đồng đội đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa hài cốt chị về Nghĩa trang liệt sĩ xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Xuân Phương, quận Bắc Từ Liêm).
2. Nhật ký Đặng Thùy Trâm - Di sản bất tử.
Hai cuốn nhật ký của bà được viết từ năm 1968 đến 1970, ngay trước khi chị hy sinh. Sau khi chị mất, một sĩ quan quân báo Mỹ là Fredric Whitehurst đã tìm thấy cuốn nhật ký này. Theo lời khuyên của người phiên dịch "Đừng đốt, vì trong đó đã có lửa rồi!", ông đã giữ lại và mang về Mỹ, cất giữ trong suốt 35 năm.
Năm 2005, cuốn nhật ký được trao trả lại cho gia đình bà. Sau đó, nó được nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn biên tập và xuất bản với tên gọi "Nhật ký Đặng Thùy Trâm", nhanh chóng trở thành một hiện tượng văn học và được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Cuốn nhật ký không chỉ là những ghi chép chân thực về cuộc sống gian khổ nơi chiến trường, mà còn là tâm hồn của một người con gái Hà Nội trẻ trung, lãng mạn, luôn tràn đầy tình yêu thương với gia đình, quê hương và lý tưởng cao cả. Tác phẩm đã giúp nhiều người, kể cả những cựu binh Mỹ, hiểu rõ hơn về con người và lý tưởng chiến đấu của người Việt Nam.
3. Những trích đoạn trong cuốn sách - Nhật Ký Đặng Thùy Trâm.
12.4.68
Rừng chiều sau một cơn mưa, những lá cây xanh trong trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung.
Không khí trầm lặng và buồn lạ lùng. Cả khu nhà bệnh nhân im lặng, bên khu nhân viên cũng chỉ nghe thấy tiếng Hường rì rầm trò chuyện với ai. Một nỗi nhớ mênh mang bao trùm quanh mình. Nhớ ai? Nhớ ba, nhớ má, nhớ những người vừa ra đi… và nhớ cả một người bệnh nhân đang chờ mình đến với anh nữa. Bên trong nỗi nhớ hình như có một nỗi buồn sâu kín, thầm lặng nhưng rất nặng nề.
Dù sao vết thương lòng vẫn đang rỉ máu, dù mình có muốn lấy công việc lấy mọi nỗi nhớ khác đè lên trên, nó vẫn trỗi dậy, xót xa vô cùng. Hãy quên đi Th. ơi! Hãy quên đi mà tìm lại niềm hy vọng mới mẻ xanh tốt trong lành hơn. Hãy lấy niềm tự hào mà quên đi thất vọng. Con người ấy đâu có xứng đáng với tình yêu trong trắng, chung thuỷ của Thuỳ.
Ơi những người thân yêu của tôi trên quê hương Đức Phổ này, có ai hiểu và cảm thông hết nỗi lòng tôi chăng? Nỗi lòng một cô gái đầy ước mơ hy vọng mà không được đáp lại một cách xứng đáng?
22.4.68
Hường ơi! Hường đã chết rồi cho hết những đau xót này - nay một người ngã xuống, mai lại một người ngã xuống. Xương máu đã chất cao như ngọn núi căm thù sừng sững trước mắt chúng ta. Bao giờ! Bao giờ và bao giờ hỡi các đồng chí. Bao giờ mới đuổi hết lũ quân uống máu người không tanh ấy khỏi đất nước chúng ta.
Vậy là hết, những đêm rì rầm tâm sự bên nhau không bao giờ có nưa. Bên tai mình còn nghe rõ giọng Hường trầm trầm tình cảm, Hường khen ngợi động viên mình, ca ngợi mối tình chung thuỷ cửa mình. Vậy là hết, những buổi cùng nhau tắm dưới suối nước, cùng nhau ăn một chén chè. Mình bỗng nhớ hôm nào gặp Hường bên bờ suối ở Nghĩa Hành, Hường ôm mình trong tay, hôn lên mái tóc, hôn lên má mình và cả hai cùng rưng rưng nước mắt.
Nhìn chú Công vẫn bình thản sao? Mình nghe tin mà bàng hoàng như trong cơn ác mộng. Bao giờ không hay biết gì về tin sét đánh ấy, mình thấy xót xa như ai xát muối vào trong ruột. Mất một đứa con như Hường còn đau hơn mất cả khúc ruột.
Chú ơi, hãy nén đau thương lại đi chú, nếu biết tin này! Và anh Quang, người con trai đã thuỷ chung chờ đợi Hường trong bao nhiêu năm nay cũng không bao giờ thực hiện được mơ ước nữa. Hường của anh đã vĩnh viễn nằm yên dưới nắm đất quê hương anh rồi.
14.5.68
Một dòng chữ ghi trên bàn: "Chị Trâm thương nhớ của em…". Dòng chữ của San. Một chuyện giản đơn vậy mà mình cảm động. Tình thương với San ngày càng thắm thiết. Có lần ngồi nói chuyện với San, hai chị em (chị mà nhỏ tuổi hơn em) cãi nhau về chuyện nếu phải chết thì ai nên chết. Mình nhường cho San sống bởi vì đời San chưa hề được hưởng sung sướng và bởi vì San là đứa con duy nhất của một bà mẹ goá đã ở vậy nuôi con từ năm hai mốt tuổi đến giờ.
Vậy mà San cứ khăng khăng rằng mình phải sống, phải trở về với mẹ, với em, với Miền Bắc thân yêu đang trông đợi mình. Rõ vớ vẩn, chuyện không đâu vào đâu cả nhưng sao hai chị em đều cảm thấy thương nhau hơn. Mình muốn đối với San bằng một tình thương chân thực, trong lành mà e rằng có ai hiểu lệch vấn đề đi không. San năm nay hơn mình ba tuổi, đã có vợ và con năm tuổi.
17.5.68
Chiến tranh còn tiếp diễn, chết chóc vẫn diễn ra hàng ngày, từng giờ từng phút, dễ như trở bàn tay vậy. Mới tối qua Thìn và anh Sơn còn cùng bọn mình trò chuyện. Thìn còn dặn Lệ mua vải may áo, đêm nay hai người ấy chỉ còn là hai cái xác nằm dưới nắm đất của đất Đức Phổ mà lần đầu họ đặt chân đến ấy rồi. Chết quá dễ dàng, không có cách nào đề phòng được những tổn thất ấy cả.
Buồn làm sao!
Liên nói vậy mà đúng: Hãy sống với nhau bằng tình thương chân thành đi kẻo rồi hối hận khi bạn mình đã chết rồi mới nghĩ rằng hồi còn sống mình đã không thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Riêng mình đã làm như vậy. Mà thật ra xưa nay mình vẫn giàu tình thương với tất cả mọi người, một tình thương yêu rộng rãi nhưng rất đỗi chân thành. Tất cả bệnh nhân trong bệnh xá này trong những lúc đau ốm nặng mình đều đến với họ bằng tinh thần trách nhiệm, bằng tình thương thắm thiết đó cho nên dù xa lạ bao nhiêu rồi cũng thấy có một cái gì gắn bó với người thầy thuốc mà họ thấy rất gần với họ ấy.
Họ gọi mình bằng hai tiếng "Chị Hai", họ xưng em mặc dù lớn tuổi hơn mình và họ vui đùa, làm nũng với mình nữa. Giữa những ngày gian khó ác liệt này, mình đã tìm lấy niềm vui, sự an ủi nơi họ. Còn riêng tư, không Thuỳ ơi, đừng nghĩ đến nữa, hãy gạt đi những áng mây đang nhóm lên ở cuối góc trời, đừng đề nó nổi cơn phong ba bão táp giữa tâm hồn Thuỳ nhé.
31.5.68
Một cuộc chạy càn quy mô nơi căn cứ, toàn bệnh xá di chuyển, vất vả vô cùng. Lòng mình nao nao thương xót khi nhìn thấy thương binh mồ hôi lấm tấm trên gương mặt còn xanh mướt, ráng sức bước từng bước một qua hết đèo lại dốc. Sau này nếu được sống trong hoa thơm nắng đẹp của Xã hội Chủ nghĩa hãy nhớ và nhớ mãi cảnh này, hãy nhớ sự hy sinh của những người đã đổ máu vì sự nghiệp chung, vì ai mà chúng ta vất vả thế này hở các đồng chí? Vì bọn quỷ cướp nước còn đang ở trên đất nước chúng ta cho nên…
Ơi những người thương binh mà tôi thương yêu như những người ruột thịt, hãy cười lên trong gian khổ, hãy giữ mãi mối lạc quan vô bờ bến mà từ lâu nay các đồng chí đã giữ được dù trong hoàn cảnh khó khăn đến thế nào!
8.10.68
Nắng đầu thu tươi vàng óng ả tràn ngập cả khu rừng. Nắng đầu thu với những cơn gió se môi và se cả lòng người. Lại nhớ… nhớ mênh mông sâu thẳm như lòng đại dương đang ôm tròn thân mình dải đất Việt Nam. Nhớ từ một người bạn hiền lành, kín đáo có ngôi nhà nhỏ cuối phố Đội Cấn, nhớ đến đứa em tinh nghịch có mái tóc mềm kẹp bổng lên cao, nhớ một đứa em trai miền Nam vừa gửi thư tạm biệt trước lúc lên đường đi học, nhớ một đứa em thân thiết có đôi mắt long lanh dưới hàng mi dài và nhớ sao một người thân yêu đã vĩnh viễn nằm yên nghỉ trên bờ biển quê hương.
Đất nước ơi! Bao giờ cho nhớ thương nguôi bớt, bao giờ cho đất nước thanh bình? Mình biết ngày thắng lợi không xa nữa nhưng sao vẫn thấy hạnh phúc xa vời quá. Liệu có được thấy ngày hạnh phúc ấy nữa không? “Người cộng sản rất yêu cuộc sống nhưng khi cần vẫn có thể nhẹ nhàng mà chết được”. Chết mà vẫn yêu sao cuộc sống, cuộc sống mà người ta đã đổi bằng mồ hôi nước mắt và máu xương suốt hai mươi ba năm nay.
3.11.68
Miền Bắc đã hòa bình! Tiếng bom rơi phi nghĩa đã câm hẳn rồi trên miền Bắc thân yêu của ta.Miền Bắc ơi! Niềm vui đang rạng rỡ trên mười sáu triệu khuôn mặt ấy còn đọng một nét khổ đau. Vì miền Nam, miền Nam còn đau thương khói lửa, vì miền Nam còn nặng những tiếng gầm gào của bầy quỷ dữ.
Ba má và những người thân thương ngoài đó trong niềm vui hôm nay không thể không chạnh lòng nghĩ đến miền Nam và nghĩ đến mình. Thì hãy cứ vui đi, dù niềm vui chưa trọn vẹn.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH