Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng
Trang chủ/Lịch Sử Việt Nam/Thời Kỳ Pháp Thuộc (1883–1945)

Thời Kỳ Pháp Thuộc (1883–1945)

Phan Đình Phùng

Phan Đình Phùng

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt


Phan Đình Phùng

Sinh : 1847, La Sơn (Hà Tĩnh)

Mất : 1895, Hương Khê (Hà Tĩnh)


Ông là một nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19 tại Việt Nam. Ông nổi tiếng với lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tài năng quân sự, được coi là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của phong trào chống Pháp.
---------------------
1. Sơ lược về Phan Đình Phùng.

Phan Đình Phùng sinh ngày 6 tháng 6 năm 1847 tại làng Đông Thái, xã Yên Đồng, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An (nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học.

Cha ông là Phó bảng Phan Đình Tuyến, các bác ông là chí sĩ Phan Đình Thông và Cử nhân Phan Đình Thuật, chú ông là Phó bảng Phan Đình Vận. Cả ba anh em họ Phan sống đến tuổi trưởng thành đều thi đỗ và vào triều làm quan. Từ nhỏ, Phan Đình Phùng đã tỏ ra chán ghét với chương trình học bảo thủ xưa cũ, tuy vậy ông vẫn kiên trì học tập cho đến khi đỗ Cử nhân vào năm 1876. Trong bài thi của mình, Phan Đình Phùng đã lấy Nhật Bản làm ví dụ cho việc một đất nước có thể phát triển quân sự thần tốc nếu có đủ ý chí. Ông đậu Cử nhân trong khoa thi Bính Tí (1876) và trở thành Đình nguyên Tiến sĩ trong kỳ thi Đình năm sau.

Mặc dù đỗ đạt cao nhưng Phan Đình Phùng thường được biết đến nhờ sự chính trực, liêm khiết của mình hơn là tài học. Cũng nhờ đức tính này mà ông thăng quan nhanh chóng trong triều đình Tự Đức.

Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông được bổ làm Tri huyện Yên Khánh (tỉnh Ninh Bình). Trong thời gian ông tại chức, có một vị linh mục Công giáo La Mã là Trần Lục luôn dựa vào sự hỗ trợ ngầm của các nhà truyền giáo Pháp mà ức hiếp người dân không theo đạo ở địa phương. Nhân một lần vị linh mục này lộng quyền, Phan Đình Phùng đã đem người này ra đánh. Cũng từ đây mà một cuộc tranh cãi dữ dội đã nổ ra, ảnh hưởng đến các mối quan hệ giữa Triều đình, Công giáo Việt Nam và Pháp. Cuối cùng, triều đình Huế đã phải cách chức Tri huyện của Phan Đình Phùng.

Phan Đình Phùng mặc dù bị cách chức Tri huyện, nhưng nhờ sự chính trực của mình mà ông được thuyên chuyển vào kinh thành, trở thành một thành viên của Đô sát viện. Tại triều, ông tố cáo nhiều vụ khuất tất, nên có lần được Hoàng đế Tự Đức khen là "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được), nên càng nổi tiếng về tính cương trực, được thăng lên chức Ngự sử trong triều.
Năm 1884, Phan Đình Phùng được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.

Năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ và vua Hàm Nghi ban Chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân chống Pháp, Phan Đình Phùng đã hưởng ứng lời hiệu triệu này. Ông đã gác lại những bất đồng cá nhân trước đó với Tôn Thất Thuyết để cùng nhau gánh vác việc nước. Ông tập hợp sự ủng hộ từ các làng quê, lập đại bản doanh trên núi Vũ Quang, một nơi có thể nhìn ra pháo đài ven biển của Pháp. Tổ chức của ông cũng trở thành hình mẫu cho các nghĩa quân sau này.

Khởi nghĩa diễn ra trên một địa bàn rộng lớn, trải dài khắp bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Căn cứ chính được đặt ở vùng núi Hương Khê (Hà Tĩnh).

Phan Đình Phùng cùng cộng sự đắc lực là Cao Thắng đã xây dựng một lực lượng nghĩa quân có kỷ luật, được tổ chức thành 15 quân thứ. Họ không chỉ chiến đấu mà còn chủ động xây dựng căn cứ, xưởng rèn đúc vũ khí.

Cao Thắng đã nghiên cứu và chế tạo thành công súng trường kiểu 1874 của Pháp để trang bị cho nghĩa quân. Đây là một điểm sáng tạo rất lớn, giúp nghĩa quân có thể đối đầu hiệu quả hơn với quân Pháp.

Nghĩa quân đã áp dụng nhiều chiến thuật linh hoạt, bao gồm cả đánh du kích và trận địa chiến. Một trong những chiến công nổi tiếng là trận Vụ Quang, nơi nghĩa quân dùng chiến thuật phá đập, xả lũ để tiêu diệt địch.

Mặc dù đã chiến đấu kiên cường và gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại, nhưng cuộc khởi nghĩa cuối cùng vẫn thất bại. Trong một trận giao tranh ác liệt, Phan Đình Phùng bị thương nặng rồi hy sinh vào ngày 28 tháng 12 năm 1895, thọ 48 tuổi.

Sau khi ông mất, các thủ lĩnh nghĩa quân khác dần bị tiêu diệt hoặc ra hàng và phong trào Hương Khê tan rã vào đầu năm 1896, đánh dấu sự kết thúc của phong trào Cần Vương.

Cuộc khởi nghĩa Hương Khê, dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường của dân tộc mà còn là một tấm gương sáng về tài năng tổ chức, lãnh đạo và sự sáng tạo trong chiến đấu của các sĩ phu phong kiến yêu nước cuối thế kỷ 19.

Đền thờ chính của Phan Đình Phùng đặt tại quê hương ông, làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là công trình tưởng niệm vị anh hùng dân tộc, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê chống Pháp.





MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗