Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng
Trang chủ/Lịch Sử Việt Nam/Thời Kỳ Pháp Thuộc (1883–1945)

Thời Kỳ Pháp Thuộc (1883–1945)

Phan Bội Châu

Phan Bội Châu

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt


Phan Bội Châu

Tên thật là Phan Văn San

Sinh : 1867, Nam Đàn (Nghệ An)

Mất : 1940, Bến Ngự (Huế)


Phan Bội Châu là một nhà cách mạng, đã lãnh đạo phong trào Duy Tân và khởi xướng phong trào Đông Du nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc khỏi ách cai trị của thực dân Pháp.

Ông nổi tiếng với tư tưởng "dân tộc độc lập" và là người tiên phong trong việc tìm kiếm con đường cứu nước mới, khác với các nhà nho truyền thống.
-----------------
1. Sơ lược về Phan Bội Châu

Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Cha ông là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận Ngữ, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện.

Thuở thiếu thời ông đã sớm có lòng yêu nước. Năm 17 tuổi, ông viết bài "Hịch Bình Tây Thu Bắc" đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kỳ khởi nghĩa kháng Pháp. Năm 19 tuổi (1885), ông cùng bạn là Trần Văn Lương lập đội "Sĩ tử Cần Vương" (hơn 60 người) chống Pháp, nhưng bị đối phương kéo tới khủng bố nên phải giải tán.

Năm 1900, ông đã đậu đầu (Giải nguyên) ở trường thi Nghệ An. Trong vòng 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, Phan Bội Châu bôn ba khắp nước Việt Nam kết giao với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu La Nguyễn Thành), Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Sĩ Kiện, Lê Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại,...

Phan Bội Châu đả kích việc thực dân Pháp cấm giảng dạy lịch sử Việt Nam mà thay vào đó là lịch sử Pháp, nhằm dụng ý xóa bỏ những ảnh hưởng của văn hóa truyền thống Việt Nam, truyền bá văn hóa Pháp nhằm đồng hóa người Việt, đồng thời đào tạo ra một tầng lớp công chức và chuyên viên phục vụ cho nền cai trị và công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp.

Năm 1904, Ông nhận thấy con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến đã lỗi thời, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội với chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục nền độc lập và thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.

Sau đó ông đã phát động phong trào Đông Du từ những năm 1905 đến 1908, đưa hàng trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập, nhằm chuẩn bị lực lượng, học hỏi kiến thức và kỹ năng để về nước chống Pháp, nhưng bị phát hiện và trục xuất khỏi Nhật, phong trào tan rã.

Cuối năm 1910, Phan Bội Châu chuyển một đại bộ phận hội viên (trong đó có khoảng 50 thanh niên) ở Quảng Đông về xây dựng căn cứ địa ở Bạn Thầm (Xiêm La). Tại đây, họ cùng nhau cày cấy, học tập và luyện tập võ nghệ để chuẩn bị cho một kế hoạch phục quốc sau này.

Tháng 6 năm 1912, trong cuộc "Đại hội nghị" tại từ đường nhà Lưu Vĩnh Phúc ở Quảng Đông (Trung Quốc), có đông đủ đại biểu khắp ba kỳ đã quyết định giải tán Duy Tân hội và thành lập Việt Nam Quang phục Hội, tức thay đổi tôn chỉ từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ để đánh đuổi quân Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc kiến lập Việt Nam.

Sau đó, Việt Nam Quang phục Hội cử một số hội viên về nước để trừ khử một vài viên chức Pháp và cộng sự đắc lực của họ, nhằm "đánh thức đồng bào", "kêu gọi hồn nước". Các cuộc bạo động bằng tạc đạn tuy xảy ra lẻ tẻ nhưng vẫn khuấy động được dư luận trong và ngoài nước, làm nhà cầm quyền Pháp tăng cường khủng bố, khiến nhiều người bị bắt và bị giết.

Ngày 24 tháng 12 năm 1913, Phan Bội Châu bị bắt. Nhưng nhờ Nguyễn Thượng Hiền, lúc bấy giờ đang ở Bắc Kinh, vận động nên Long Tế Quang không thể giao nộp ông cho Pháp mà chỉ đưa giam vào nhà tù Quảng Đông, mãi đến tháng 2 năm 1917, ông mới được giải thoát.

Ra tù, Phan Bội Châu lại tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1922, phỏng theo Trung Quốc Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn, ông định cải tổ Việt Nam Quang phục Hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng. Được Nguyễn Ái Quốc (lúc này đang làm Ủy viên Đông phương bộ, phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế cộng sản) góp ý, Phan Bội Châu định thay đổi đường lối theo hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa kịp cải tổ thì ông bị bắt.

Ngày 30 tháng 6 năm 1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải giải về nước xử án tù chung thân, trước phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đòi thả Phan Bội Châu và nhờ sự can thiệp của Toàn quyền Varenne, ông được về an trí tại Bến Ngự (Huế). Trong 15 năm cuối đời, ông (lúc bấy giờ được gọi là Ông già Bến Ngự) vẫn giữ trọn phẩm cách cao khiết, không ngừng tuyên truyền tinh thần yêu nước bằng văn thơ, nên rất được nhân dân yếu mến.
Ngày 29 tháng 12 năm 1940 Phan Bội Châu mất tại Bến Ngự, Huế.

Hiện nay tên ông đã được đặt cho nhiều trường học và nhiều con đường trên cả nước, trong đó có trường chuyên của tỉnh Nghệ An và một con phố lớn tại Hà Nội, Hạ Long để vinh danh.

Đền thờ chính của Phan Bội Châu ở Thừa Thiên Huế. Ngoài ra, còn có Khu di tích lưu niệm Phan Bội Châu ở Nam Đàn, Nghệ An, bao gồm quê nội và quê ngoại của ông.















MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗