Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng

Tổng quan

Tiểu Sử Về Đại Tướng

Tiểu Sử Về Đại Tướng

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt

Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tên khai sinh là Võ Giáp
Sinh : 1911, làng An Xá (Quảng Bình)
Mất : 2013, Viện 108 (Hà Nội)

Ông là một nhà chỉ huy quân sự và chính trị kiệt xuất của Việt Nam, là Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam và được ca ngợi là "anh cả" của quân đội. Sự nghiệp quân sự của ông gắn liền với các chiến dịch lớn như Điện Biên Phủ 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, đóng góp to lớn vào chiến thắng giải phóng dân tộc.

Ông là một trong số 10 vị tướng tài của thế giới đáng ngưỡng mộ.
--------------------
1. Sơ lược về Võ Nguyên Giáp.

Võ Nguyên Giáp có bí danh Văn, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 ở làng An Xá, tổng Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Ninh (nay là xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) trong một gia đình nhà nho, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân), một nhà nho đức độ và mẹ là bà Nguyễn Thị Kiên.

Sinh ra, lớn lên từ vùng quê giàu truyền thống yêu nước, trực tiếp chứng kiến cảnh đất nước bị nô lệ, lầm than, ông đã nung nấu trong lòng ý chí sôi sục và quyết tâm đứng lên đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Từ năm 1925 đến năm 1926, ông tham gia phong trào học sinh ở Huế, năm 1927 tham gia Đảng Tân Việt cách mạng (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam)

Từ năm 1935 đến năm 1940, Võ Nguyên Giáp dạy môn lịch sử ở Trường Trung học tư thục Thăng Long, viết báo tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng trong thanh niên học sinh, đồng thời tiếp tục học Đại học luật và kinh tế.

Tháng 6 năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, ông được Đảng cử ra nước ngoài gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1941, ông về nước, tham gia công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng.

Tháng 12 năm 1944, ông được Lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đạị tướng đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Ngày 20 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng cho 11 cán bộ cao cấp của quân đội, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng. Từ tháng 7-1948, ông được tái bổ nhiệm là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thay Tạ Quang Bửu. Tháng 2-1951, ông được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Trong Kháng chiến chống Pháp của Việt Nam (1945-1954), Võ Nguyên Giáp là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy các chiến dịch lớn, đặc biệt là quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ giành thắng lợi đưa đến việc ký kết hiệp nghị Geneva. Sự chỉ đạo, chỉ huy của Đại tướng, Tổng Tư lệnh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), khi quân Mỹ trực tiếp vào miền Nam, nhiều nước bạn bè khuyên Việt Nam bỏ ý định đối đầu trực tiếp với Mỹ nhưng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định, Việt Nam sẽ thất bại nếu đánh theo kiểu chính quy của các nước lớn, nhưng người Việt Nam sẽ giành chiến thắng bằng cách đánh kiểu Việt Nam. Những kế hoạch chiến lược và phương án tác chiến của ông đã góp phần đánh bại các chiến lược của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.

Ngày 7-4-1975, Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh cho toàn quân “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đưa cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Sau khi rời vị trí lãnh đạo, quản lý cho đến những năm đầu của thế kỷ 21, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn theo dõi cập nhật tình hình thời sự trong nước, thế giới và luôn quan tâm, kịp thời đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về những vấn đề quan trọng của quốc gia.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời vào ngày 4 tháng 10 năm 2013. Ông trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hưởng thọ 102 tuổi, tang lễ tổ chức theo nghi thức Quốc tang và được an táng tại Vũng Chùa, đảo Yến, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

















MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗