Đàng Ngoài - Đàng Trong (1593 – 1778)
Tóm tắt diễn biến
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Ban đầu, cả thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu "phù Lê diệt Mạc" để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê. Sau khi nhà Mạc đã bị đánh đổ, trên danh nghĩa, cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều là 2 vị bề tôi của nhà Hậu Lê, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đều là lãnh thổ của nhà Lê.
Nhưng trên thực tế thì cả hai tập đoàn phong kiến này đều tạo thế lực cát cứ cho riêng mình như 2 nước riêng biệt, vua nhà Hậu Lê đã không còn thực quyền nên không ngăn chặn được sự phân tranh giữa hai họ Trịnh – Nguyễn, chia lãnh thổ ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627 và kết thúc vào năm 1777 khi chúa Nguyễn sụp đổ. Hệ quả là đất nước bị chia cắt, nhân dân ly tán và sự phát triển bị kìm hãm.
- 𝐍𝐡𝐚̀ 𝐇𝐚̣̂𝐮 𝐋𝐞̂ - 𝐋𝐞̂ 𝐓𝐫𝐮𝐧𝐠 𝐇𝐮̛𝐧𝐠
𝐋𝐞̂ 𝐊𝐢́𝐧𝐡 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟓𝟗𝟗 – 𝟏𝟔𝟏𝟗) : năm 1599 Lê Thế Tông mất, con thứ là Lê Duy Tân lên thay, tức Lê Kính Tông.
𝐋𝐞̂ 𝐓𝐡𝐚̂̀𝐧 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟔𝟏𝟗 – 𝟏𝟔𝟒𝟑 𝐯𝐚̀ 𝟏𝟔𝟒𝟗 – 𝟏𝟔𝟔𝟐): năm 1619, vua Kính Tông hợp mưu cùng Trịnh Xuân là con của Trịnh Tùng giết chết Trịnh Tùng để giành lại quyền lực. Kế hoạch không thành, vua bị ép thắt cổ chết. Con trưởng là Lê Duy Kỳ lên ngôi, tức Lê Thần Tông. Ông là vị vua đặc biệt trong lịch sử Việt Nam vì làm vua đến 2 lần và giống như vua Trần Minh Tông, vua Lê Thần Tông có 4 người con đều làm vua. Năm 1643 ông nhường ngôi cho con trưởng là Lê Duy Hựu, tức Lê Chân Tông, còn ông làm Thái Thượng Hoàng. Năm 1649 Lê Chân Tông mất, ông lại trở về làm vua đến 1662 thì mất.
𝐋𝐞̂ 𝐂𝐡𝐚̂𝐧 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟔𝟒𝟑 – 𝟏𝟔𝟒𝟗): năm 1643, vua Thần Tông nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu, tức Lê Chân Tông.
𝐋𝐞̂ 𝐇𝐮𝐲𝐞̂̀𝐧 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟔𝟔𝟑 – 𝟏𝟔𝟕𝟏 : năm 1662 vua Thần Tông yểu mệnh qua đời, con là Lê Duy Vũ lên nối ngôi, tức Lê Huyền Tông.
𝐋𝐞̂ 𝐆𝐢𝐚 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟔𝟕𝟐 – 𝟏𝟔𝟕𝟓): năm 1671 vua Huyền Tông yểu mệnh qua đời lúc 18 tuổi nhưng không có con nối ngôi nên người em của vua Huyền Tông là Lê Duy Cối lên thay, tức Lê Gia Tông.
𝐋𝐞̂ 𝐇𝐲 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟔𝟕𝟓 – 𝟏𝟕𝟎𝟓): năm 1675 vua Gia Tông yểu mệnh qua đời lúc 15 tuổi. Vì vua không có con nối dõi nên Trịnh Tạc bèn lập em vua là Lê Duy Hiệp lên ngôi, tức Lê Hy Tông.
𝐋𝐞̂ 𝐃𝐮̣ 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟕𝟎𝟓 – 𝟏𝟕𝟐𝟗): năm 1705 vua Hy Tông nhường ngôi cho con là thái tử Lê Duy Đường, tức Lê Dụ Tông, còn mình lên làm Thái Thượng hoàng.
𝐋𝐞̂ 𝐃𝐮𝐲 𝐏𝐡𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠 (𝟏𝟕𝟐𝟗 – 𝟏𝟕𝟑𝟐): năm 1729 vua Dụ Tông bị Trịnh Cương ép nhường ngôi cho con là Thái tử Lê Duy Phường.
𝐋𝐞̂ 𝐓𝐡𝐮𝐚̂̀𝐧 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟕𝟑𝟐 – 𝟏𝟕𝟑𝟓): năm 1732 Trịnh Giang phế bỏ Lê Duy Phường xuống làm Hôn Đức Công, lập anh của Duy Phường là Lê Duy Tường lên ngôi, tức Lê Thuần Tông.
𝐋𝐞̂ 𝐘́ 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟕𝟑𝟓 – 𝟏𝟕𝟒𝟎): năm 1735 Lê Thuần Tông mất, Trịnh Giang lại lập em của Thuần Tông là Lê Duy Thận lên ngôi, tức Lê Ý Tông.
𝐋𝐞̂ 𝐇𝐢𝐞̂̉𝐧 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 (𝟏𝟕𝟒𝟎 – 𝟏𝟕𝟖𝟔): năm 1740 Trịnh Doanh ép vua Ý Tông nhường ngôi cho con trưởng của vua Thuần Tông là Lê Duy Diêu, tức Lê Hiển Tông.
𝐋𝐞̂ 𝐌𝐚̂̃𝐧 Đ𝐞̂́ (𝟏𝟕𝟖𝟕 – 𝟏𝟕𝟖𝟖): năm 1786 Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc đánh đổ Trịnh Khải, lúc này thực quyền nằm trong tay Nguyễn Huệ. Năm 1787 vua Hiển Tông mất, Nguyễn Huệ với sự góp ý của vợ là Ngọc Hân công chúa đã lập Lê Duy Kỳ lên làm vua, tức Lê Mẫn Đế hay Lê Chiêu Thống. Đây cũng là vị vua cuối cùng của nhà Lê và cũng là vị vua bị chỉ trích rất dữ dội vì đã từng qua cầu viện quân nhà Thanh về đánh quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ. Hành vi này bị xem là “cõng rắn cắn gà nhà” của Chiêu Thống.
- 𝐂𝐚́𝐜 𝐜𝐡𝐮́𝐚 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐨̛̉ Đ𝐚̀𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐨𝐚̀𝐢
𝐁𝐢̀𝐧𝐡 𝐀𝐧 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐓𝐮̀𝐧𝐠 (𝟏𝟔𝟐𝟑 – 𝟏𝟔𝟓𝟐): Trịnh Tùng là con thứ của Trịnh Kiểm, là người có công đánh đổ nhà Mạc, lấy lại chính quyền cho nhà Lê. Ông được coi là vị chúa Trịnh đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Ông cũng là người kết thúc cho thời kỳ Nam-Bắc triều và mở ra thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh.
𝐓𝐡𝐚𝐧𝐡 Đ𝐨̂ 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐓𝐫𝐚́𝐧𝐠 (𝟏𝟔𝟐𝟑 – 𝟏𝟔𝟓𝟐): năm 1623 Trịnh Tùng lâm bệnh nặng và mất, con là Trịnh Tráng lên thay. Ông đã 4 lần phát quân đánh với chúa Nguyễn ở Đàng Trong nhưng chỉ toàn thất bại nên phải rút về.
𝐓𝐚̂𝐲 Đ𝐨̂ 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐓𝐚̣𝐜 (𝟏𝟔𝟓𝟑 – 𝟏𝟔𝟖𝟐): năm 1653, Trịnh Tráng phong Trịnh Tạc làm Tây Đô Vương. Năm 1657, chúa Nguyễn đem quân vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính và chiếm được 7 huyện Nam Hà. Trong lúc chiến sự gay go thì Trịnh Tráng mất, con là Trịnh Tạc lên thay. Ông cùng với con trai là Trịnh Căn, phản công với quân của chúa Nguyễn giành lại được Bắc Hà vào năm 1660.
Đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐂𝐚̆𝐧 (𝟏𝟔𝟖𝟐 – 𝟏𝟕𝟎𝟗): năm 1682 Trịnh Tạc mất, con là Trịnh Căn lên thay. Ông là người có tài cả về quân sự lẫn văn trị. Ông từng cầm quân giành lại đất Bắc Hà từ tay chúa Nguyễn. Ông cũng là người khôn khéo trong ngoại giao khi buộc nhà Thanh phải trả lại các vùng đất bị quan trấn thủ nhà Thanh chiếm ở vùng biên giới. Thời gian ông cầm quyền có thể nói là thời kỳ thịnh vượng nhất ở Đàng Ngoài.
𝐀𝐧 Đ𝐨̂ 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐂𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 (𝟏𝟕𝟎𝟗 – 𝟏𝟕𝟐𝟗): năm 1709 Trịnh Căn qua đời, vì con và cháu nội đích truyền đều đã mất, nên chắc là Trịnh Cương lên thay. Ông kế vị trong hoàn cảnh đất nước thái bình, thịnh trị, không có nạn đao binh. Ông sớm tỏ ra là người chín chắn, tận tụy khi tiếp quản cơ nghiệp của tổ tiên và củng cố thêm nền cai trị ở Đàng Ngoài.
𝐔𝐲 𝐍𝐚𝐦 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐆𝐢𝐚𝐧𝐠 (𝟏𝟕𝟐𝟗 – 𝟏𝟕𝟒𝟎): năm 1740 Trịnh Cương đột ngột qua đời, con là thái tử Trịnh Giang lên thay. Giang là người ương hèn, lại ham mê hưởng lạc khiến cho quần thần bất mãn, giặc giã nổi loạn khắp nơi, nền chính trị ở Bắc Hà lung lay dữ dội. Có lần Trịnh Giang bị sét đánh gần chết. Từ đó mắc bệnh “kinh quý”, tâm thần hoảng loạn, phải cho xây cung Thưởng Trì xuống lòng đất để ở.
𝐌𝐢𝐧𝐡 Đ𝐨̂ 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐃𝐨𝐚𝐧𝐡 (𝟏𝟕𝟒𝟎 – 𝟏𝟕𝟔𝟕): năm 1740, các quần thần trong triều hợp sức đồng lòng lập Trịnh Doanh là em của Trịnh Gianh lên làm chúa, tức Minh Đô Vương. Doanh từ nhỏ đã sớm biểu hiện là người văn tài võ lược. Khi lên ngai vương, ông đã lập tức sửa sang lại những gì mà Trịnh Giang đã làm sai như phế bỏ vua Lê Duy Phường, lập vua Lê Duy Tường, đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài.
𝐓𝐢̃𝐧𝐡 Đ𝐨̂ 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐒𝐚̂𝐦 (𝟏𝟕𝟔𝟕 – 𝟏𝟕𝟖𝟐): năm 1767, Trịnh Doanh mất, con là thái tử Trịnh Sâm lên thay. Từ nhỏ Sâm đã được nuôi dạy rất cẩn thận nên khi trưởng thành là người văn võ toàn tài, tính tình cứng rắn, thông minh và quyết đoán. Ông cũng là vị chúa đầu tiên và duy nhất ở Đàng Ngoài đánh chiếm được vùng Thuận Hóa của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nhưng sau khi thắng trận lại tỏ ra kiêu căng tự phụ.
Đ𝐢𝐞̣̂𝐧 Đ𝐨̂ 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐂𝐚́𝐧 (𝟐 𝐭𝐡𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐧𝐚̆𝐦 𝟏𝟕𝟖𝟐): năm 1767, Trịnh Sâm mất, con là Trịnh Cán còn nhỏ lại hay đau bệnh lên thay.
Đ𝐨𝐚𝐧 𝐍𝐚𝐦 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐊𝐡𝐚̉𝐢 (𝟏𝟕𝟖𝟐 – 𝟏𝟕𝟖𝟔): sau khi Trịnh Sâm mất, Trịnh Khải là con trai trưởng muốn cướp ngôi nên đã xúi giục bọn kiêu binh ở Tam phủ nổi loạn, phế Cán lập Khải lên ngôi. Lúc này Bắc Hà rơi vào nạn kiêu binh nổi loạn, cướp phá khắp nơi.
𝐀́𝐧 Đ𝐨̂ 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐓𝐫𝐢̣𝐧𝐡 𝐁𝐨̂̀𝐧𝐠 (𝟏𝟕𝟖𝟕 – 𝟏𝟕𝟖𝟖): năm 1786, nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnh đạo tiến đánh Bắc Hà. Quân Trịnh Khải chống cự yếu ớt và bị đánh tan tác. Bản thân Trịnh Khải bị bắt và tự tử ngay sau đó. Để cứu cơ nghiệp của nhà Trịnh, Trịnh Bồng là bác họ của Trịnh Khải tập hợp các tướng lĩnh cũ để mưu đồ việc lớn. Nhưng sau nhiều lần thất bại ông đã từ bỏ ngai vương, chọn cuộc sống tu hành rồi trốn đời biệt tích. Ông là vị Trịnh vương cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
- 𝐂𝐚́𝐜 𝐜𝐡𝐮́𝐚 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐨̛̉ Đ𝐚̀𝐧𝐠 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠
𝐓𝐡𝐮̛𝐨̛̣𝐧𝐠 𝐯𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 𝐋𝐚𝐧 (𝟏𝟔𝟑𝟓 – 𝟏𝟔𝟒𝟖): năm 1635 Sãi vương qua đời, con thứ 2 là Nguyễn Phúc Lan lên thay. Ông cũng được gọi là chúa Thượng (Thượng vương).
𝐇𝐢𝐞̂̀𝐧 𝐯𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 𝐓𝐚̂̀𝐧 (𝟏𝟔𝟒𝟖 – 𝟏𝟔𝟖𝟕): năm 1648, Thượng vương đột ngột qua đời trong khi có chiến sự với Đàng Ngoài. Nguyễn Phúc Tần là con lên thay. Ông là vị chúa đầu tiên và duy nhất ở ĐàngTrong chủ động cho quân vượt sông Gianh đánh Đàng Ngoài và chiếm được Nam Hà. Sau thời gian giằng co với quân Trịnh, năm 1672 hai bên chính thức đình chiến, lấy sông Gianh làm biên giới. Về đối nội ông là người chăm lo chính sự, xa rời nữ sắc và coi trọng hiền tài nên ông được dân gian gọi là chúa Hiền (Hiền vương).
𝐍𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐯𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 𝐓𝐡𝐚́𝐢 (𝟏𝟔𝟖𝟕 – 𝟏𝟔𝟗𝟏): năm 1687 Hiền vương qua đời, con là Nguyễn Phúc Thái lên thay. Phúc Thái nổi tiếng là người nhân nghĩa, rộng lượng, là vị chúa có tài. Ông trọng dụng hiền tài, giảm nhẹ hình phạt, thuế khóa khiến trăm họ đều vui nên dân gian gọi ông là chúa Nghĩa (Nghĩa vương).
𝐌𝐢𝐧𝐡 𝐯𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 𝐂𝐡𝐮 (𝟏𝟔𝟗𝟏 – 𝟏𝟕𝟐𝟓): năm 1691, Nghĩa vương qua đời, con là Nguyễn Phúc Chu lên thay. Ông là một vị chúa có hiền và có tài nên dân gian gọi là chúa Minh (Minh vương hay Quốc chúa Minh vương). Nối nghiệp tiền nhân, ông mở mang bờ cõi xuống phía Nam đến tận Hà Tiên. Ông cũng là người rất coi trọng hiền thần, thích lời ngay thẳng, bỏ xa hoa, giảm nhẹ thuế má, ngục hình.
𝐍𝐢𝐧𝐡 𝐯𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 𝐓𝐡𝐮̣ (𝟏𝟕𝟐𝟓 – 𝟏𝟕𝟑𝟖): năm 1725 Nghĩa vương qua đời, con trưởng là Nguyễn Phúc Thụ tiếp ngôi. Thụ từ nhỏ đã là người văn võ toàn tài. Ông đã có công đánh đuổi quân Chân Lạp quấy nhiễu và lấy được đất ở Vĩnh Long và Mỹ Tho. Ông đặt ra các đơn vị hành chánh để quản lý, giữ gìn và mở mang vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ông được dân gian gọi là chúa Ninh (Ninh vương).
𝐕𝐨̃ 𝐯𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 𝐊𝐡𝐨𝐚́𝐭 (𝟏𝟕𝟑𝟖 – 𝟏𝟕𝟔𝟓): năm 1738, Ninh vương qua đời, con trưởng là Nguyễn Phúc Khoát lên thay. Ông là người thông minh, cương nghị, dứt khoát đôi khi tàn nhẫn. Ông là người có công rất lớn trong công cuộc Nam tiến và lấy được rất nhiều vùng đất đai màu mỡ như : Tân An, Gò Công, Sóc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc, Sa Đét. Dân gian thường gọi ông là chúa Võ (Võ vương).
Đ𝐢̣𝐧𝐡 𝐯𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 – 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 𝐓𝐡𝐮𝐚̂̀𝐧 (𝟏𝟕𝟔𝟓 – 𝟏𝟕𝟕𝟕): năm 1765, Võ vương qua đời, quyền thần Trương Phúc Loan nắm hết quyền hành. Phúc Loan phế ngôi của củaNguyễn Phúc Luân và đưa Nguyễn Phúc Thuần lúc đó còn nhỏ lên thay. Lúc này khởi nghĩa Tây Sơn nổi dậy cùng với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đánh chiếm Thuận Hóa và tiến về Nam Bộ. Năm 1777, Phúc Thuần bị quân Tây Sơn bắt và giết chết ở Long Xuyên. Ông là vị chúa cuối cùng của nhà Nguyễn ở Đàng Trong trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh này. Dân gian gọi ông là chúa Định (Định vương).
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH