Skip to Content
Bỏ qua menu, đến nội dung
tckVĂN HÓA & DU LỊCH Tìm cảm hứng
Trang chủ/Lịch Sử Việt Nam/Nhà Nguyễn (1802-1883)

Nhà Nguyễn (1802-1883)

Tóm tắt về nhà Nguyễn

Tóm tắt về nhà Nguyễn

CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN

Điều làm nên sự đặc biệt


Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, tồn tại từ năm 1802 đến 1945, được thành lập bởi vua Gia Long (Nguyễn Ánh) sau khi đánh bại nhà Tây Sơn. Triều đại này có 13 vị vua trong 143 năm lịch sử với nhiều biến động, đặc biệt là cuộc xâm lược của Pháp vào giữa thế kỷ 19.


𝟏. 𝐆𝐢𝐚 𝐋𝐨𝐧𝐠 (𝟏𝟖𝟎𝟐 – 𝟏𝟖𝟐𝟎): năm 1777 Nguyễn Ánh là hậu duệ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã chạy thoát trước sự truy sát của quân Tây Sơn. Ông sông lưu vong ở Xiêm La một thời gian. Dưới sự giúp đỡ của Xiêm La và Pháp, năm 1802 Nguyễn Ánh tập trung lực lượng đánh chiếm Nam Hà, sau đó đánh bại nhà Tây Sơn lập nên triều Nguyễn thống nhất giang san rộng lớn từ Nam chí Bắc. Ông lên ngôi hoàng đế, tức Gia Long, đặt tên nước là Việt Nam. Có nhiều luồng nhận xét trái chiều về con người Nguyễn Ánh – Gia Long nhưng khách quan mà nhận xét ông là người rất có nghị lực và có công thống nhất đất nước sau 3 thế kỷ bị chia cắt. Tuy ông đã từng dựa vào ngoại bang như Xiêm La, Pháp nhưng ông là người ý thức tự chủ dân tộc rất cao. Tuy nhiên ông cũng là người tàn nhẫn khi cho phá nát mộ phần của nhà Tây Sơn và giết chết công thần khai quốc vì những chuyện cỏn con.

𝟐. 𝐌𝐢𝐧𝐡 𝐌𝐚̣𝐧𝐠 (𝟏𝟖𝟐𝟎 – 𝟏𝟖𝟒𝟎): năm 1820, vua Gia Long bệnh nặng qua đời, con là Nguyễn Phúc Đảm lên thay, tức Minh Mạng. Ông là vị vua thông minh, quyết đoán. Dưới thời của ông, đất nước trở nên thịnh vượng và hùng mạnh có lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông cũng có tham vọng biến nước Việt Nam thành một cường quốc nên đã đặt tên nước là Đại Nam.

𝟑. 𝐓𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐓𝐫𝐢̣ (𝟏𝟖𝟒𝟏 – 𝟏𝟖𝟒𝟕): cuối năm 1820, vua Minh Mạng băng hà, con trưởng là Nguyễn Phúc Miên Tông lên thay, tức Thiệu Trị. Ông là người cần mẫn chăm lo việc nước nhưng không năng động nên chỉ áp dụng những gì đã có thời Minh Mạng mà không có cải cách nào đáng chú ý.

𝟒. 𝐓𝐮̛̣ Đ𝐮̛́𝐜 (𝟏𝟖𝟒𝟕 – 𝟏𝟖𝟖𝟑): năm 1847, vua Thiệu Trị băng hà, con thứ là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm lên ngôi. Ông là vị vua tốt, cần mẫn nhưng cũng giống các vị tiên đế khác, ông là người theo trường phái Tống nho lạc hậu, bảo thủ và hủ lậu so với đương thời. Thời gian ông trị vì đất nước có nhiều biến cố. Năm 1858, Pháp đem chiến thuyền đến Đà Nẵng bán phá. Năm 1862, Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Năm 1867, Pháp đánh chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ là : Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Năm 1873, Pháp đánh chiếm 4 tỉnh miền Bắc là : Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình và Hải Dương. Năm 1874, ký hòa ước công nhận toàn bộ Nam Kỳ là thuộc Pháp. Năm 1883, ký hiệp ước với Pháp với nội dung là xác nhận toàn bộ quyền bảo hộ dài hạn của Pháp ở Bắc và Trung Kỳ. Đất nước ta lại rơi vào tay ngoại xâm.

𝟓. 𝐕𝐮𝐚 𝐃𝐮̣𝐜 Đ𝐮̛́𝐜 (𝟏𝟖𝟖𝟑): Dục Đức là ông vua có số phận bi thảm nhất trong số 13 vị vua triều Nguyễn. Vua Dục Đức nổi tiếng với thời gian tại vị ngắn nhất lịch sử chỉ 3 ngày (từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 7 năm 1883) thì bị hai vị phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường hạch tội phế truất, bị giam và bỏ đói đến chết.

𝟔. 𝐕𝐮𝐚 𝐇𝐢𝐞̣̂𝐩 𝐇𝐨̀𝐚 (𝟏𝟖𝟖𝟑): sau khi phế Dục Đức, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đưa Lãng Quốc công Hồng Dật lên làm vua, giai thoại kể rằng khi quần thần đến phủ rước, dù năn nỉ mấy, Hồng Dật cũng không đi, cuối cùng phải dùng vũ lực đưa ông vào Tử Cấm thành. Sau vì bất đồng quan điểm nên bị hai quan phụ chính ép uống thuốc độc chết sau khi tại vị 4 tháng.

𝟕. 𝐕𝐮𝐚 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐏𝐡𝐮́𝐜 (𝟏𝟖𝟖𝟑–𝟏𝟖𝟖𝟒): Ông là vị quân chủ yểu mệnh nhất của nhà Nguyễn, tại vị được 8 tháng thì băng hà lúc mới 15 tuổi.

𝟖. 𝐕𝐮𝐚 𝐇𝐚̀𝐦 𝐍𝐠𝐡𝐢 (𝟏𝟖𝟖𝟒–𝟏𝟖𝟖𝟓): Là em trai vua Kiến Phúc, được hai trọng thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi ở tuổi 13. Năm 1885, sau trận tập kích Pháp thất bại, được Tôn Thất Thuyết hộ giá và nhân danh ông phát động phong trào Cần Vương chống Pháp, sau 3 năm thì bị bắt đem an trí ở Algérie rồi qua đời tại đây.

𝟗. 𝐕𝐮𝐚 Đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐊𝐡𝐚́𝐧𝐡 (𝟏𝟖𝟖𝟓–𝟏𝟖𝟖𝟗): Ông được tướng Pháp đề nghị lập làm vua lúc vua Hàm Nghi rời khỏi triều đình theo phong trào Cần Vương. Ông là người hiền lành, không chống đối Pháp, ở ngôi được 3 năm hưởng dương 24 tuổi.

𝟏𝟎. 𝐕𝐮𝐚 𝐓𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐓𝐡𝐚́𝐢 (𝟏𝟖𝟖𝟗–𝟏𝟗𝟎𝟕): Ông là người cầu tiến, yêu nước, có hiểu biết khá toàn diện. Khác với những vị vua trước đây, ông học tiếng Pháp, cắt tóc ngắn mặc âu phục, làm quen với vǎn minh phương Tây. Ông ngày càng bộc lộ tinh thần dân tộc và chống Pháp rất cao, nên đến năm 1907 ông bị Pháp ép thoái vị, sau đó đày sang đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân.

𝟏𝟏. 𝐕𝐮𝐚 𝐃𝐮𝐲 𝐓𝐚̂𝐧 (𝟏𝟗𝟎𝟕–𝟏𝟗𝟏𝟔): Khi Thành Thái bị thực dân Pháp lưu đày tại Vũng Tàu, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với Pháp. Năm 1916, lúc ở Châu Âu có cuộc Thế chiến thứ Nhất, ông bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang phục Hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân dự định khởi nghĩa. Dự định thất bại và Duy Tân bị bắt đem an trí cùng vua cha Thành Thái ở đảo Réunion Ấn Độ Dương.

𝟏𝟐. 𝐕𝐮𝐚 𝐊𝐡𝐚̉𝐢 Đ𝐢̣𝐧𝐡 (𝟏𝟗𝟏𝟔–𝟏𝟗𝟐𝟓): Tuy kế nhiệm Duy Tân nhưng Khải Định là một ông vua thân Pháp nên không có được cảm tình của nhân dân.

𝟏𝟑. 𝐕𝐮𝐚 𝐁𝐚̉𝐨 Đ𝐚̣𝐢 (𝟏𝟗𝟐𝟓 – 𝟏𝟗𝟒𝟓): Bảo Đại là vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn nói riêng và của chế độ quân chủ lịch sử Việt Nam nói chung. Ông được đào tạo theo Tây học, hào hoa lịch lãm, mạnh dạn bỏ một số tập tục của các vua đời trước, phá lệ Tứ bất đặt ra từ thời Gia Long phong bà Nguyễn Hữu Thị Lan là Nam Phương hoàng hậu và đã thực hiện nhiều cải cách về nội các, hành chính. Trong bản Tuyên ngôn thoái vị bàn giao quyền lực cho Việt Minh, ông có câu nói nổi tiếng “Trẫm muốn làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ”.






MỘT GÓC NHÌN KHÁC

Qua những khung hình

TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH

Có thể bạn cũng thích

Về điểm đến ↗