Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Trần Anh Tông là vị hoàng đế thứ tư của nhà Trần, nổi tiếng với việc kế thừa và phát huy sự nghiệp của triều đình, thời kỳ trị vì của ông được xem là thời kỳ thịnh trị và phồn vinh của Đại Việt. Ông đã giữ vững biên cương, đánh dẹp quân Ai Lao quấy nhiễu ở phía tây và khéo léo thực hiện hôn nhân chính trị với Chăm Pa, nhường lại hai châu Ô, Lý để mở rộng lãnh thổ về phía Nam.---------------1. Sơ lược về Trần Anh Tông.
Vua Trần Anh Tông có tên huý là Trần Thuyên, con trưởng của vua Trần Nhân Tông và bà Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu (con gái của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn).Ông sinh ngày 25 tháng 10 năm 1276, vào thời điểm mà Trần Thuyên được sinh ra, phụ thân vẫn còn là Hoàng thái tử, vì vậy mà ông đã được ông nội lập làm Hoàng thái tôn.
Năm 1292, Trần Nhân Tông mới phong Trần Thuyên làm Hoàng thái tử, khi ấy ông đã 16 tuổi. Ngay dịp đó, triều đình đã chọn con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng lập làm thái tử phi.
Trần Quốc Tảng là em ruột của hoàng hậu, cho nên nếu xét về mối quan hệ, Trần Thuyên và thái tử phi là anh em họ con cô con cậu bên ngoại, còn về bên nội thì hai người đều gọi Thái Tổ Trần Thừa là kị nội. Hôn nhân cận huyết xảy ra với mật độ thường xuyên vào thời nhà Trần, nguyên nhân chính được cho là để đề phòng trường hợp bị ngoại tộc cướp ngôi, tương tự như cách mà họ đã sử dụng để đoạt lấy ngai vàng từ nhà Lý.
Ngày 16 tháng 4 năm 1293, Ông lên ngôi lấy niên hiệu là "Hưng Long". Vua Trần Anh tông là một người anh minh, việc học hành mở mang rộng rãi biết lắng nghe ý kiến của cha, đồng thời biết dùng nhân tài như Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật... Thời gian ông trị vì được coi là thời kỳ thịnh trị nhất của nhà Trần.
Khi mới lên nối ngôi, Trần Anh Tông thích rượu chè và thường thích đi vi hành cùng mấy người thị vệ, có lần bị một số người "vô lại" ném gạch trúng đầu. Thượng hoàng biết chuyện, chỉ biết lắc đầu.. Sử cũ ghi chép, một ngày nọ Nhân Tông hồi cung, gặp phải Anh Tông do uống rượu say nên mãi trưa vẫn chưa ngủ dậy. Ông nổi giận liền quay về Thiên Trường, hạ chiếu cho bá quan ngày mai phải tề tập ở đó nghe chỉ. Khi tỉnh dậy ông vội vã cùng một người học trò là Đoàn Nhữ Hài tức tốc đến Thiên Trường dâng biểu tạ tội. Nhân Tông đọc biểu, mới mắng rằng:"Trẫm còn có con khác cũng có thể nối ngôi được. Trẫm còn sống mà người còn dám như thế. Huống chi sau này?".
Từ đó Anh Tông trở nên minh mẫn hơn, chấp hành nghiêm túc nề nếp, kỷ cương của hoàng triều, không những thế ông còn không ưa những người nghiện rượu. Ông đã cho bãi bỏ một số tục lệ cũ của nhà Trần như lấy chàm vẽ rồng vào đùi vua hay tục hôn nhân nội tộc.
Năm 1294, Thượng hoàng Trần Nhân Tông "thân chinh đi dẹp" cuộc xâm phạm của Ai Lao. Đội quân tiên phong của Đại Việt ban đầu bị vây khốn, nhưng tướng Phạm Ngũ Lão đã kịp thời thúc quân phá vây và đánh tan quân Ai Lao.
Năm 1298, Quân Ai Lao tiếp tục tràn tới chiếm sông Chàng Lang. Quân Đại Việt, dưới sự chỉ huy của Phạm Ngũ Lão, đã phản công và lấy lại lãnh thổ.
Năm 1301, Quân Ai Lao tấn công Đà Giang, và một lần nữa, Phạm Ngũ Lão được lệnh đem quân tới Mường Mai (Hòa Bình ngày nay), phá tan quân địch.
Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chăm Pa là Chế Mân. Chế Mân dâng lại châu Ô và châu Lý. Vua Trần đổi là Thuận Châu và Thuận Hoá.
Năm 1307, Chế Mân qua đời, theo phong tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Trần Anh Tông biết tin, sai Hành khiển Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền và rước bà về Đại Việt bằng đường biển.
Sau khi Chế Mân chết, em là Chế Chí lên ngôi vua Chiêm Thành. Theo sách Việt Nam sử lược, Chế Chí "hay phản trắc, không giữ những điều giao ước trước" với Đại Việt.
Năm 1311, Trần Anh Tông quyết định tấn công Chiêm Thành. Dưới sự chỉ huy của nhà vua cùng Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, quân đội Đại Việt đã chia làm 3 cánh thủy, bộ tiến vào phương Nam, buộc vua Chiêm là Chế Chí đầu hàng.
Năm 1312, Anh Tông lập em Chế Chí là Chế Đà A Bà Niêm làm vua chư hầu đất Chiêm rồi trở về kinh sư.
Năm 1313, quân Xiêm La sang xâm lấn Chiêm Thành. Trần Anh Tông chỉ định Đỗ Thiên Hư làm Kinh lược sứ Nghệ An và Lâm Bình giúp người Chiêm chiến đấu giữ đất.
Ngày 3 tháng 4 năm 1314, ông nhường ngôi cho Trần Mạnh, tức Hoàng đế Trần Minh Tông. Anh Tông lui về Thiên Trường (Nam Định) làm Thái thượng hoàng, Trần Anh Tông vẫn tham gia công việc triều chính.
Ngày 21 tháng 4 năm 1320, Trần Anh Tông qua đời ở cung Trùng Quang (thuộc phủ Thiên Trường), hưởng dương 45 tuổi, ông được chôn cất vào Thái lăng tại Yên Sinh (nay thuộc thành phố Đông Triều, Quảng Ninh). Triều đình truy tôn ông miếu hiệu là Anh Tông, thụy hiệu là "Ứng Thiên Quảng Vận Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng đế".
Ngày nay, Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là nơi thờ "Ngũ vị Hoàng đế" nhà Trần, bao gồm cả Vua Trần Anh Tông, do có công lớn trong việc dựng nước và giữ nước.
Về điểm đến ↗
Nhà Trần (1225–1400)
Trần Anh Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Trần Anh Tông
Tên thật là Trần Thuyên
Sinh : 1276, Thăng Long ( Hà Nội)
Mất : 1320, Thăng Long.
Trần Anh Tông là vị hoàng đế thứ tư của nhà Trần, nổi tiếng với việc kế thừa và phát huy sự nghiệp của triều đình, thời kỳ trị vì của ông được xem là thời kỳ thịnh trị và phồn vinh của Đại Việt. Ông đã giữ vững biên cương, đánh dẹp quân Ai Lao quấy nhiễu ở phía tây và khéo léo thực hiện hôn nhân chính trị với Chăm Pa, nhường lại hai châu Ô, Lý để mở rộng lãnh thổ về phía Nam.---------------1. Sơ lược về Trần Anh Tông.
Vua Trần Anh Tông có tên huý là Trần Thuyên, con trưởng của vua Trần Nhân Tông và bà Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu (con gái của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn).Ông sinh ngày 25 tháng 10 năm 1276, vào thời điểm mà Trần Thuyên được sinh ra, phụ thân vẫn còn là Hoàng thái tử, vì vậy mà ông đã được ông nội lập làm Hoàng thái tôn.
Năm 1292, Trần Nhân Tông mới phong Trần Thuyên làm Hoàng thái tử, khi ấy ông đã 16 tuổi. Ngay dịp đó, triều đình đã chọn con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng lập làm thái tử phi.
Trần Quốc Tảng là em ruột của hoàng hậu, cho nên nếu xét về mối quan hệ, Trần Thuyên và thái tử phi là anh em họ con cô con cậu bên ngoại, còn về bên nội thì hai người đều gọi Thái Tổ Trần Thừa là kị nội. Hôn nhân cận huyết xảy ra với mật độ thường xuyên vào thời nhà Trần, nguyên nhân chính được cho là để đề phòng trường hợp bị ngoại tộc cướp ngôi, tương tự như cách mà họ đã sử dụng để đoạt lấy ngai vàng từ nhà Lý.
Ngày 16 tháng 4 năm 1293, Ông lên ngôi lấy niên hiệu là "Hưng Long". Vua Trần Anh tông là một người anh minh, việc học hành mở mang rộng rãi biết lắng nghe ý kiến của cha, đồng thời biết dùng nhân tài như Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật... Thời gian ông trị vì được coi là thời kỳ thịnh trị nhất của nhà Trần.
Khi mới lên nối ngôi, Trần Anh Tông thích rượu chè và thường thích đi vi hành cùng mấy người thị vệ, có lần bị một số người "vô lại" ném gạch trúng đầu. Thượng hoàng biết chuyện, chỉ biết lắc đầu.. Sử cũ ghi chép, một ngày nọ Nhân Tông hồi cung, gặp phải Anh Tông do uống rượu say nên mãi trưa vẫn chưa ngủ dậy. Ông nổi giận liền quay về Thiên Trường, hạ chiếu cho bá quan ngày mai phải tề tập ở đó nghe chỉ. Khi tỉnh dậy ông vội vã cùng một người học trò là Đoàn Nhữ Hài tức tốc đến Thiên Trường dâng biểu tạ tội. Nhân Tông đọc biểu, mới mắng rằng:"Trẫm còn có con khác cũng có thể nối ngôi được. Trẫm còn sống mà người còn dám như thế. Huống chi sau này?".
Từ đó Anh Tông trở nên minh mẫn hơn, chấp hành nghiêm túc nề nếp, kỷ cương của hoàng triều, không những thế ông còn không ưa những người nghiện rượu. Ông đã cho bãi bỏ một số tục lệ cũ của nhà Trần như lấy chàm vẽ rồng vào đùi vua hay tục hôn nhân nội tộc.
Năm 1294, Thượng hoàng Trần Nhân Tông "thân chinh đi dẹp" cuộc xâm phạm của Ai Lao. Đội quân tiên phong của Đại Việt ban đầu bị vây khốn, nhưng tướng Phạm Ngũ Lão đã kịp thời thúc quân phá vây và đánh tan quân Ai Lao.
Năm 1298, Quân Ai Lao tiếp tục tràn tới chiếm sông Chàng Lang. Quân Đại Việt, dưới sự chỉ huy của Phạm Ngũ Lão, đã phản công và lấy lại lãnh thổ.
Năm 1301, Quân Ai Lao tấn công Đà Giang, và một lần nữa, Phạm Ngũ Lão được lệnh đem quân tới Mường Mai (Hòa Bình ngày nay), phá tan quân địch.
Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chăm Pa là Chế Mân. Chế Mân dâng lại châu Ô và châu Lý. Vua Trần đổi là Thuận Châu và Thuận Hoá.
Năm 1307, Chế Mân qua đời, theo phong tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Trần Anh Tông biết tin, sai Hành khiển Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền và rước bà về Đại Việt bằng đường biển.
Sau khi Chế Mân chết, em là Chế Chí lên ngôi vua Chiêm Thành. Theo sách Việt Nam sử lược, Chế Chí "hay phản trắc, không giữ những điều giao ước trước" với Đại Việt.
Năm 1311, Trần Anh Tông quyết định tấn công Chiêm Thành. Dưới sự chỉ huy của nhà vua cùng Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, quân đội Đại Việt đã chia làm 3 cánh thủy, bộ tiến vào phương Nam, buộc vua Chiêm là Chế Chí đầu hàng.
Năm 1312, Anh Tông lập em Chế Chí là Chế Đà A Bà Niêm làm vua chư hầu đất Chiêm rồi trở về kinh sư.
Năm 1313, quân Xiêm La sang xâm lấn Chiêm Thành. Trần Anh Tông chỉ định Đỗ Thiên Hư làm Kinh lược sứ Nghệ An và Lâm Bình giúp người Chiêm chiến đấu giữ đất.
Ngày 3 tháng 4 năm 1314, ông nhường ngôi cho Trần Mạnh, tức Hoàng đế Trần Minh Tông. Anh Tông lui về Thiên Trường (Nam Định) làm Thái thượng hoàng, Trần Anh Tông vẫn tham gia công việc triều chính.
Ngày 21 tháng 4 năm 1320, Trần Anh Tông qua đời ở cung Trùng Quang (thuộc phủ Thiên Trường), hưởng dương 45 tuổi, ông được chôn cất vào Thái lăng tại Yên Sinh (nay thuộc thành phố Đông Triều, Quảng Ninh). Triều đình truy tôn ông miếu hiệu là Anh Tông, thụy hiệu là "Ứng Thiên Quảng Vận Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng đế".
Ngày nay, Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là nơi thờ "Ngũ vị Hoàng đế" nhà Trần, bao gồm cả Vua Trần Anh Tông, do có công lớn trong việc dựng nước và giữ nước.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH