Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông là vị vua thứ tám của nhà Trần, lên ngôi trong thời kỳ triều chính loạn lạc, để quân Chiêm Thành đánh phá Thăng Long. Ông là người đã tạo cho Hồ Quý Ly cơ hội phát triển thế lực tiến đến giành ngôi nhà Trần sau khi qua đời.
Trần Nghệ Tông có tên thật là Trần Phủ hoặc Trần Thúc Minh, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1321, là con trai thứ ba của Trần Minh Tông, mẹ là Minh Từ Hoàng thái phi Lê Thị, là cô ruột của Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly) . Ông là em của Trần Hiến Tông và là anh của Trần Dụ Tông, Trần Duệ Tông.
Năm 1329, vua Trần Minh Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Vượng, tức vua Trần Hiến Tông. Hiến Tông tôn vua cha làm Thái thượng hoàng.Năm 1341, Trần Hiến Tông mất. Thượng hoàng lập con thứ 10 là Trần Hạo lên thay tức vua Trần Dụ Tông.
Năm 1369, vua em Trần Dụ Tông mất ở tuổi 33. Trần Nhật Lễ lên ngôi, đặt niên hiệu là Đại Định. Trần Nhật Lễ tên thật là Dương Nhật Lễ, ông nguyên là con trai ruột của người họ Dương, được Cung Túc Vương Trần Nguyên Dục (anh vua Trần Dụ Tông) nhận làm con nuôi. Trần Dụ Tông không có con nên khi chết có di chiếu truyền ngôi cho Nhật Lễ. Ông lên ngôi, lấy các anh, em khác mẹ của Dụ Tông làm Tể tướng.
Ông cai trị hơn một năm, được cho là bỏ bê triều chính, lại định đổi sang họ Dương nên bị hoàng tộc chống đối, đưa đến 2 cuộc đảo chính do các tôn thất nhà Trần lãnh đạo.
Đầu tiên, tháng 9 âm lịch năm 1370, Thái tể Cung Tĩnh Vương Trần Nguyên Trác làm binh biến, nhưng bị Nhật Lễ đánh bại và giết chết. Hai tể tướng tôn thất còn lại là Thái sư Cung Định vương Trần Phủ, Hữu Tướng quốc Cung Tuyên vương Trần Kính chạy ra Đà Giang, tập họp lực lượng đảo chính lần hai. Dương Nhật Lễ bị truất ngôi và bắt giam, sau bị đánh chết, mẹ ông sang Chiêm Thành cầu cứu vua Chế Bồng Nga sang đánh Đại Việt báo thù.
Ngày 15 tháng 12 năm 1370, Cung Định vương lên ngôi khi đã 50 tuổi, sử gọi là Trần Nghệ Tông. Ông đặt niên hiệu mới là Thiệu Khánh, đại xá thiên hạ. Nghệ Tông còn xưng làm Nghĩa Hoàng.
Năm 1371, Nghệ Tông lấy người họ ngoại là Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly) làm Khu mật viện đại sứ. Nghệ Tông từ khi mới lên ngôi rất tín nhiệm Quý Ly. Sau đó Nghệ Tông lại đem em gái mới góa chồng là Huy Ninh công chúa gả cho Quý Ly.
Noi gương đời trước của nhà Trần, thường giữ chế độ Hoàng đế và Thái thượng hoàng cùng trị nước, Nghệ Tông Hoàng đế cũng quyết định chuẩn bị nhường ngôi, và người được chọn là em trai ông, Cung Tuyên vương Trần Kính.
Tháng 4 năm Tân Hợi (1371), Nghệ Tông lập Cung Tuyên vương làm Hoàng thái đệ, chính thức giữ ngôi vị Trữ quân.
Ngày 4 tháng 12 năm 1372, Nghệ Tông Hoàng đế nhường ngôi cho em ông là Cung Tuyên vương Trần Kính hiệu là Trần Duệ Tông.
Từ thời Nghệ Tông còn tại vị, Chiêm Thành đã mang quân cướp phá theo lời cầu cứu của mẹ Dương Nhật Lễ. Nghệ Tông không chống nổi, phải bỏ chạy về Đông Ngàn. Quân Chiêm chiếm được kinh thành Thăng Long, đốt phá Hoàng cung, đã thế còn bắt bớ phụ nữ, sau đó mới thu quân về nước.
Năm 1376, Duệ Tông hăng hái đi đánh Chiêm, nhưng vì chủ quan, bị mắc mưu chúa Chiêm là Chế Bồng Nga nên bị tử trận ở thành Đồ Bàn năm 1377, sau đó Nghệ Tông lập con của Duệ Tông là Trần Hiện lên ngôi, tức là Trần Phế đế, Phế đế ít tuổi nên mọi việc vẫn do Thượng hoàng Nghệ Tông quyết định.Cái chết của Duệ Tông là bước ngoặt lớn đối với nhà Trần thời hậu kỳ. Vua anh Nghệ Tông nhu nhược, vốn hoàn toàn dựa vào ông và sau khi ông mất lại hoàn toàn dựa vào Hồ Quý Ly khiến cơ nghiệp nhà Trần suy sụp.
1378: Chế Bồng Nga lại đưa quân đánh tan quân nhà Trần và chiếm đóng Thăng Long. Quân Trần đánh không lại, người Chiêm một lần nữa tiến vào Thăng Long, bắt người cướp của rồi rút về.
Năm 1380, Chế Bồng Nga tổ chức tấn công vùng Thanh Hóa - Nghệ An. Trần Nghệ Tông sai Lê Quý Ly, Đỗ Tử Bình đem quân đón đánh, đẩy lùi quân Chiêm về phía nam.
Năm 1383, Chế Bồng Nga và tướng Lã Khai, chọn con đường phía tây qua vùng núi Thanh Hoá, tấn công theo hướng Tây Nam vào Thăng Long. Thượng hoàng Nghệ Tông chạy qua sông Đông Ngàn để lánh giặc. Sau này, tướng Nguyễn Đa Phương đã bảo vệ Thăng Long thành công, buộc quân Chiêm rút về sau sáu tháng.
Tháng 10 năm 1389, Chế Bồng Nga lại đánh lên Thanh Hóa. Nghệ Tông lại sai Quý Ly đi chống cự, bị quân Chiêm đánh thua to. Quý Ly để tỳ tướng Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương ở lại cầm cự với giặc, còn mình thì trốn về. Ngoài mặt trận nguy cấp, Nghệ Tông sai Thượng tướng quân Trần Khát Chân ra cứu.
Năm 1390, Trần Khát Chân nhờ hàng tướng Chiêm là Ba Lậu Kê chỉ cho chỗ thuyền của Chế Bồng Nga, tập trung hỏa pháo mà bắn. Chế Bồng Nga trúng đạn chết, quân Chiêm Thành phải rút về nước, họa Chiêm Thành xâm lấn mới tạm chấm dứt.
Năm 1392, tôn thất Trần Nhật Chương mưu giết Quý Ly, nhưng Thượng hoàng cho là Nhật Chương có lòng khác, bèn giết Nhật Chương. Quyền hành của Quý Ly quá lớn, nhiều người lo lắng cho cơ nghiệp nhà Trần.
Ngày 6 tháng 1 năm 1395, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông qua Đời tại tẩm điện, thọ 73 tuổi, được táng vào Nguyên lăng ở Yên Sinh. Ông được dâng miếu hiệu là Nghệ Tông, thụy hiệu là Quang Nhiên Anh Triết Hoàng Đế. Nghệ Tông Hoàng đế tại vị trong gần 2 năm, làm Thái thượng hoàng trong gần 25 năm.
Sáu năm sau, Lê Quý Ly giết Trần Thuận Tông và phế Trần Thiếu Đế, cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ.
Ngày nay, Trần Nghệ Tông được thờ tại Đền An Sinh (Quảng Ninh) và có lăng mộ tại Nguyên lăng (cũng thuộc khu vực An Sinh). Ông cũng được thờ phụng tại Đền Trần ở Nam Định cùng các vua Trần khác.
Về điểm đến ↗
Nhà Trần (1225–1400)
Trần Nghệ Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Trần Nghệ Tông
Tên thật là Trần Phủ
Sinh : 1321, Thăng Long.
Mất : 1394, Thăng Long.
Ông là vị vua thứ tám của nhà Trần, lên ngôi trong thời kỳ triều chính loạn lạc, để quân Chiêm Thành đánh phá Thăng Long. Ông là người đã tạo cho Hồ Quý Ly cơ hội phát triển thế lực tiến đến giành ngôi nhà Trần sau khi qua đời.
-----------------
1. Sơ lược về Trần Nghệ Tông.
Trần Nghệ Tông có tên thật là Trần Phủ hoặc Trần Thúc Minh, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1321, là con trai thứ ba của Trần Minh Tông, mẹ là Minh Từ Hoàng thái phi Lê Thị, là cô ruột của Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly) . Ông là em của Trần Hiến Tông và là anh của Trần Dụ Tông, Trần Duệ Tông.
Năm 1329, vua Trần Minh Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Vượng, tức vua Trần Hiến Tông. Hiến Tông tôn vua cha làm Thái thượng hoàng.Năm 1341, Trần Hiến Tông mất. Thượng hoàng lập con thứ 10 là Trần Hạo lên thay tức vua Trần Dụ Tông.
Năm 1369, vua em Trần Dụ Tông mất ở tuổi 33. Trần Nhật Lễ lên ngôi, đặt niên hiệu là Đại Định. Trần Nhật Lễ tên thật là Dương Nhật Lễ, ông nguyên là con trai ruột của người họ Dương, được Cung Túc Vương Trần Nguyên Dục (anh vua Trần Dụ Tông) nhận làm con nuôi. Trần Dụ Tông không có con nên khi chết có di chiếu truyền ngôi cho Nhật Lễ. Ông lên ngôi, lấy các anh, em khác mẹ của Dụ Tông làm Tể tướng.
Ông cai trị hơn một năm, được cho là bỏ bê triều chính, lại định đổi sang họ Dương nên bị hoàng tộc chống đối, đưa đến 2 cuộc đảo chính do các tôn thất nhà Trần lãnh đạo.
Đầu tiên, tháng 9 âm lịch năm 1370, Thái tể Cung Tĩnh Vương Trần Nguyên Trác làm binh biến, nhưng bị Nhật Lễ đánh bại và giết chết. Hai tể tướng tôn thất còn lại là Thái sư Cung Định vương Trần Phủ, Hữu Tướng quốc Cung Tuyên vương Trần Kính chạy ra Đà Giang, tập họp lực lượng đảo chính lần hai. Dương Nhật Lễ bị truất ngôi và bắt giam, sau bị đánh chết, mẹ ông sang Chiêm Thành cầu cứu vua Chế Bồng Nga sang đánh Đại Việt báo thù.
Ngày 15 tháng 12 năm 1370, Cung Định vương lên ngôi khi đã 50 tuổi, sử gọi là Trần Nghệ Tông. Ông đặt niên hiệu mới là Thiệu Khánh, đại xá thiên hạ. Nghệ Tông còn xưng làm Nghĩa Hoàng.
Năm 1371, Nghệ Tông lấy người họ ngoại là Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly) làm Khu mật viện đại sứ. Nghệ Tông từ khi mới lên ngôi rất tín nhiệm Quý Ly. Sau đó Nghệ Tông lại đem em gái mới góa chồng là Huy Ninh công chúa gả cho Quý Ly.
Noi gương đời trước của nhà Trần, thường giữ chế độ Hoàng đế và Thái thượng hoàng cùng trị nước, Nghệ Tông Hoàng đế cũng quyết định chuẩn bị nhường ngôi, và người được chọn là em trai ông, Cung Tuyên vương Trần Kính.
Tháng 4 năm Tân Hợi (1371), Nghệ Tông lập Cung Tuyên vương làm Hoàng thái đệ, chính thức giữ ngôi vị Trữ quân.
Ngày 4 tháng 12 năm 1372, Nghệ Tông Hoàng đế nhường ngôi cho em ông là Cung Tuyên vương Trần Kính hiệu là Trần Duệ Tông.
Từ thời Nghệ Tông còn tại vị, Chiêm Thành đã mang quân cướp phá theo lời cầu cứu của mẹ Dương Nhật Lễ. Nghệ Tông không chống nổi, phải bỏ chạy về Đông Ngàn. Quân Chiêm chiếm được kinh thành Thăng Long, đốt phá Hoàng cung, đã thế còn bắt bớ phụ nữ, sau đó mới thu quân về nước.
Năm 1376, Duệ Tông hăng hái đi đánh Chiêm, nhưng vì chủ quan, bị mắc mưu chúa Chiêm là Chế Bồng Nga nên bị tử trận ở thành Đồ Bàn năm 1377, sau đó Nghệ Tông lập con của Duệ Tông là Trần Hiện lên ngôi, tức là Trần Phế đế, Phế đế ít tuổi nên mọi việc vẫn do Thượng hoàng Nghệ Tông quyết định.Cái chết của Duệ Tông là bước ngoặt lớn đối với nhà Trần thời hậu kỳ. Vua anh Nghệ Tông nhu nhược, vốn hoàn toàn dựa vào ông và sau khi ông mất lại hoàn toàn dựa vào Hồ Quý Ly khiến cơ nghiệp nhà Trần suy sụp.
1378: Chế Bồng Nga lại đưa quân đánh tan quân nhà Trần và chiếm đóng Thăng Long. Quân Trần đánh không lại, người Chiêm một lần nữa tiến vào Thăng Long, bắt người cướp của rồi rút về.
Năm 1380, Chế Bồng Nga tổ chức tấn công vùng Thanh Hóa - Nghệ An. Trần Nghệ Tông sai Lê Quý Ly, Đỗ Tử Bình đem quân đón đánh, đẩy lùi quân Chiêm về phía nam.
Năm 1383, Chế Bồng Nga và tướng Lã Khai, chọn con đường phía tây qua vùng núi Thanh Hoá, tấn công theo hướng Tây Nam vào Thăng Long. Thượng hoàng Nghệ Tông chạy qua sông Đông Ngàn để lánh giặc. Sau này, tướng Nguyễn Đa Phương đã bảo vệ Thăng Long thành công, buộc quân Chiêm rút về sau sáu tháng.
Tháng 10 năm 1389, Chế Bồng Nga lại đánh lên Thanh Hóa. Nghệ Tông lại sai Quý Ly đi chống cự, bị quân Chiêm đánh thua to. Quý Ly để tỳ tướng Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương ở lại cầm cự với giặc, còn mình thì trốn về. Ngoài mặt trận nguy cấp, Nghệ Tông sai Thượng tướng quân Trần Khát Chân ra cứu.
Năm 1390, Trần Khát Chân nhờ hàng tướng Chiêm là Ba Lậu Kê chỉ cho chỗ thuyền của Chế Bồng Nga, tập trung hỏa pháo mà bắn. Chế Bồng Nga trúng đạn chết, quân Chiêm Thành phải rút về nước, họa Chiêm Thành xâm lấn mới tạm chấm dứt.
Năm 1392, tôn thất Trần Nhật Chương mưu giết Quý Ly, nhưng Thượng hoàng cho là Nhật Chương có lòng khác, bèn giết Nhật Chương. Quyền hành của Quý Ly quá lớn, nhiều người lo lắng cho cơ nghiệp nhà Trần.
Ngày 6 tháng 1 năm 1395, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông qua Đời tại tẩm điện, thọ 73 tuổi, được táng vào Nguyên lăng ở Yên Sinh. Ông được dâng miếu hiệu là Nghệ Tông, thụy hiệu là Quang Nhiên Anh Triết Hoàng Đế. Nghệ Tông Hoàng đế tại vị trong gần 2 năm, làm Thái thượng hoàng trong gần 25 năm.
Sáu năm sau, Lê Quý Ly giết Trần Thuận Tông và phế Trần Thiếu Đế, cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ.
Ngày nay, Trần Nghệ Tông được thờ tại Đền An Sinh (Quảng Ninh) và có lăng mộ tại Nguyên lăng (cũng thuộc khu vực An Sinh). Ông cũng được thờ phụng tại Đền Trần ở Nam Định cùng các vua Trần khác.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH