Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Trần Nhân Tông là một vị vua anh minh, nhà quân sự lỗi lạc đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược, mở ra thời kỳ hưng thịnh cho đất nước. Sau đó, ông nhường ngôi, xuất gia tu hành và trở thành Sơ tổ, khai sáng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
-----------------
1. Sơ lược về Trần Nhân Tông.
Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm hay Trần Nhân Tôn, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258. Ông là đích trưởng tử của Trần Thánh Tông Trần Hoảng (vua thứ 2 triều Trần) và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu Trần Thị Thiều.
Trần Khâm ngay từ khi sinh ra có dáng vẻ thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, nên vua cha và ông nội – Thái thượng hoàng Trần Thái Tông đã gọi ông là Kim Tiên đồng tử.
Năm 1274, ở tuổi 16, Trần Khâm được vua cha sách phong làm Hoàng thái tử. Trần Thánh Tông cũng lập trưởng nữ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (tức Khâm Từ Hoàng hậu sau này) làm Thái tử phi. Trần Thánh Tông còn vời các nho sĩ có tài đức trong cả nước về hầu cận thái tử. Tướng Lê Phụ Trần được phong chức Thiếu sư, kiêm Trừ cung Giáo thụ, đảm trách việc dạy học thái tử.
Tuy ở ngôi thái tử và có hôn nhân hạnh phúc, Trần Khâm có chí hướng xuất gia theo Phật. Ông đã nhiều lần xin nhường ngôi Thái tử cho em là Tá Thiên vương Trần Đức Việp nhưng không được vua cha chấp thuận. Có lần, Trần Khâm nhân đêm khuya vượt thành đi vào núi Yên Tử ẩn tu, đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời sáng, ông đã thấm mệt nên vào nghỉ trong tháp. Vị tu sĩ ở chùa thấy ông có dung mạo phi thường bèn mời cơm. Sau Trần Thánh Tông và hoàng hậu biết tin, sai quan quân đi tìm và thỉnh cầu ông về kinh đô, Trần Khâm bèn miễn cưỡng nhận ngôi thái tử.
Ngày 8 tháng 11 năm 1278 Trần Khâm được cha truyền ngôi, tức vua Trần Nhân Tông. Ông tự xưng làm Hiếu Hoàng và được bá quan dâng tôn hiệu là Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Đế. Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng và cùng trị vì với Nhân Tông cho đến khi mất năm 1290.
Trong thời kỳ làm vua, Trần Nhân Tông vẫn sống thanh tịnh trên tinh thần Phật giáo. Khi rảnh việc nước, ông thường mời các thiền giả đến hỏi về yếu chỉ Thiền tông. Ngoài ra, ông từng ăn chay khổ hạnh đến mức thân hình gầy guộc, khiến Thượng hoàng phải ngăn lại.
Sách Thánh đăng ngữ lục kể:
"Thánh Tông khóc, bảo: Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con làm như thế thì sự nghiệp của Tổ tông sẽ ra sao?
Nhân Tông nghe vua cha nói vậy cũng rơi nước mắt".
Trần Nhân Tông lên ngôi trong lúc nền độc lập Đại Việt bị đe dọa trầm trọng. Ở phương Bắc, quân Nguyên Mông đã chinh phục hầu hết Nam Tống và bắt đầu dòm ngó Đại Việt.
Đứng trước hiểm họa xâm lược từ Mông Cổ, Hoàng đế đã có nhiều nỗ lực nhằm phát triển kinh tế, đảm bảo sự ổn định và đoàn kết trong nước. Ông khuyến khích nông dân tăng cường sản xuất, và nhờ vậy, Đại Việt đã được mùa to, lúa ruộng ở hương Trà Kiều thuộc Khoái Lộ một giò hai bông.
Năm 1282, Hội nghị Bình Than diễn ra, củng cố quyết tâm kháng chiến.
Năm 1284, Hội nghị Diên Hồng thống nhất ý chí "quyết đánh", thể hiện sự đồng lòng của cả đất nước. Nhà Trần đã xây dựng một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu.
Tháng 1 năm 1285, hơn 50 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan tổng chỉ huy tràn vào xâm lược Đại Việt. Sau một số trận chiến ở vùng biên giới, trước thế giặc mạnh, quân Trần lui về Thăng Long, sau đó rút về Thiên Trường (Nam Định). Nhân dân ở Thăng Long thực hiện lệnh "vườn không nhà trống" của triều đình.
Tháng 5 năm 1285, hai vua cùng quân Trần tổ chức phản công, đánh bại quân giặc ở nhiều nơi như Tây Kết, cửa Hàm Tử (Khoái Châu, Hưng Yên), bến Chương Dương (Thường Tín, Hà Nội) và tiến vào giải phóng Thăng Long. Quân giặc phải rút chạy về nước, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 2 kết thúc thắng lợi.
Cuối năm 1286, Hốt Tất Liệt huy động 30 vạn quân và 500 thuyền chiến chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Nhận được tin này hai vua đôn đốc vương hầu chiêu mộ, huấn luyện binh sĩ, đồng thời chế tạo binh khí và tàu thuyền để chuẩn bị kháng chiến.
Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên tấn công vào Đại Việt theo 2 đường thủy, bộ. Cánh quân bộ của Thoát Hoan tiến vào Thăng Long, sau đó tiến đánh các căn cứ của quân Trần nhưng thất bại.
Năm 1288, nhà Trần tổ chức phản công nhiều nơi, đặc biệt chủ động tiêu diệt đoàn thuyền lương của quân Nguyên tại Vạn Đồn và Vân Đồn, khiến địch rơi vào thế đói khát và phải lui quân, đỉnh điểm là trận Bạch Đằng đánh tan hoàn toàn thủy quân Nguyên.
Đến ngày 19 tháng 4 năm 1288, quân Nguyên đã bị quét sạch hoàn toàn khỏi Đại Việt, cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 kết thúc thắng lợi.
Sau hai cuộc kháng chiến chống Nguyên thắng lợi, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã bắt tay vào việc tái thiết kinh tế, xã hội Đại Việt. Khoảng tháng 5 năm 1288, ông xuống chiếu đại xá thiên hạ và cắt giảm thế má, sưu dịch cho dân chúng. Đặc biệt, các vùng bị chiến tranh tàn phá đều được miễn thuế và sưu dịch hoàn toàn.
Ngày 16 tháng 4 năm 1293, Trần Nhân Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Thuyên, tức Hoàng đế Trần Anh Tông rồi lên làm Thái thượng hoàng.
Năm 1294, Thượng hoàng bắt đầu quá trình tu tập tại hành cung Vũ Lâm (là một căn cứ quân sự thời Trần nằm ở Ninh Bình). Bên cạnh đó, Nhân Tông vẫn tham gia cùng Anh Tông trị nước.
Năm 1294, Thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đi dẹp loạn Ai Lao, và quân đội Đại Việt, dưới sự chỉ huy của danh tướng Phạm Ngũ Lão, đã thắng trận, bắt được rất nhiều tù binh và súc vật.
Tháng 8 âm lịch năm 1294, quân Ai Lao xâm lấn Đại Việt lần hai, Thượng hoàng lại thân chinh đánh dẹp. Quân Việt do Nhân Tông chỉ huy đã đánh tan quân Ai Lao, đồng thời thu được nhiều tù binh và chiến lợi phẩm, ổn định tình hình đất nước.
Năm 1299. Ông lên núi Yên Tử, sáng lập thiền phái Trúc Lâm và chuyên cần tu tập theo hạnh khổ hạnh, lấy pháp danh Hương Vân Đại Đầu đà.
Tháng 12 năm 1308, Trần Nhân Tông viên tịch trên đỉnh Ngọa Vân (Yên Tử), hưởng dương 50 tuổi.
Tên của ông được đặt cho nhiều trường học ở Việt Nam, một số con đường của các thành phố, tỉnh. Trong khi đó, ở các tỉnh miền Trung và miền Nam lại viết là Trần Nhân Tôn.
Đền thờ chính của Phật hoàng Trần Nhân Tông là Khu di tích Đền Trần ở Hưng Hà, Thái Bình và Tháp Huệ Quang tại Chùa Vân Yên, Yên Tử, Quảng Ninh, nơi chứa ngọc cốt của ông.
Về điểm đến ↗
Nhà Trần (1225–1400)
Trần Nhân Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Trần Nhân Tông
Tên thật là Trần Khâm
Sinh : 1258,Thăng Long (Hà Nội)
Mất : 1308, núi Yên Tử (Quảng Ninh)
Trần Nhân Tông là một vị vua anh minh, nhà quân sự lỗi lạc đã lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược, mở ra thời kỳ hưng thịnh cho đất nước. Sau đó, ông nhường ngôi, xuất gia tu hành và trở thành Sơ tổ, khai sáng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
-----------------
1. Sơ lược về Trần Nhân Tông.
Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm hay Trần Nhân Tôn, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258. Ông là đích trưởng tử của Trần Thánh Tông Trần Hoảng (vua thứ 2 triều Trần) và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu Trần Thị Thiều.
Trần Khâm ngay từ khi sinh ra có dáng vẻ thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, nên vua cha và ông nội – Thái thượng hoàng Trần Thái Tông đã gọi ông là Kim Tiên đồng tử.
Năm 1274, ở tuổi 16, Trần Khâm được vua cha sách phong làm Hoàng thái tử. Trần Thánh Tông cũng lập trưởng nữ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (tức Khâm Từ Hoàng hậu sau này) làm Thái tử phi. Trần Thánh Tông còn vời các nho sĩ có tài đức trong cả nước về hầu cận thái tử. Tướng Lê Phụ Trần được phong chức Thiếu sư, kiêm Trừ cung Giáo thụ, đảm trách việc dạy học thái tử.
Tuy ở ngôi thái tử và có hôn nhân hạnh phúc, Trần Khâm có chí hướng xuất gia theo Phật. Ông đã nhiều lần xin nhường ngôi Thái tử cho em là Tá Thiên vương Trần Đức Việp nhưng không được vua cha chấp thuận. Có lần, Trần Khâm nhân đêm khuya vượt thành đi vào núi Yên Tử ẩn tu, đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời sáng, ông đã thấm mệt nên vào nghỉ trong tháp. Vị tu sĩ ở chùa thấy ông có dung mạo phi thường bèn mời cơm. Sau Trần Thánh Tông và hoàng hậu biết tin, sai quan quân đi tìm và thỉnh cầu ông về kinh đô, Trần Khâm bèn miễn cưỡng nhận ngôi thái tử.
Ngày 8 tháng 11 năm 1278 Trần Khâm được cha truyền ngôi, tức vua Trần Nhân Tông. Ông tự xưng làm Hiếu Hoàng và được bá quan dâng tôn hiệu là Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Đế. Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng và cùng trị vì với Nhân Tông cho đến khi mất năm 1290.
Trong thời kỳ làm vua, Trần Nhân Tông vẫn sống thanh tịnh trên tinh thần Phật giáo. Khi rảnh việc nước, ông thường mời các thiền giả đến hỏi về yếu chỉ Thiền tông. Ngoài ra, ông từng ăn chay khổ hạnh đến mức thân hình gầy guộc, khiến Thượng hoàng phải ngăn lại.
Sách Thánh đăng ngữ lục kể:
"Thánh Tông khóc, bảo: Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con làm như thế thì sự nghiệp của Tổ tông sẽ ra sao?
Nhân Tông nghe vua cha nói vậy cũng rơi nước mắt".
Trần Nhân Tông lên ngôi trong lúc nền độc lập Đại Việt bị đe dọa trầm trọng. Ở phương Bắc, quân Nguyên Mông đã chinh phục hầu hết Nam Tống và bắt đầu dòm ngó Đại Việt.
Đứng trước hiểm họa xâm lược từ Mông Cổ, Hoàng đế đã có nhiều nỗ lực nhằm phát triển kinh tế, đảm bảo sự ổn định và đoàn kết trong nước. Ông khuyến khích nông dân tăng cường sản xuất, và nhờ vậy, Đại Việt đã được mùa to, lúa ruộng ở hương Trà Kiều thuộc Khoái Lộ một giò hai bông.
Năm 1282, Hội nghị Bình Than diễn ra, củng cố quyết tâm kháng chiến.
Năm 1284, Hội nghị Diên Hồng thống nhất ý chí "quyết đánh", thể hiện sự đồng lòng của cả đất nước. Nhà Trần đã xây dựng một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu.
Tháng 1 năm 1285, hơn 50 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan tổng chỉ huy tràn vào xâm lược Đại Việt. Sau một số trận chiến ở vùng biên giới, trước thế giặc mạnh, quân Trần lui về Thăng Long, sau đó rút về Thiên Trường (Nam Định). Nhân dân ở Thăng Long thực hiện lệnh "vườn không nhà trống" của triều đình.
Tháng 5 năm 1285, hai vua cùng quân Trần tổ chức phản công, đánh bại quân giặc ở nhiều nơi như Tây Kết, cửa Hàm Tử (Khoái Châu, Hưng Yên), bến Chương Dương (Thường Tín, Hà Nội) và tiến vào giải phóng Thăng Long. Quân giặc phải rút chạy về nước, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 2 kết thúc thắng lợi.
Cuối năm 1286, Hốt Tất Liệt huy động 30 vạn quân và 500 thuyền chiến chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Nhận được tin này hai vua đôn đốc vương hầu chiêu mộ, huấn luyện binh sĩ, đồng thời chế tạo binh khí và tàu thuyền để chuẩn bị kháng chiến.
Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên tấn công vào Đại Việt theo 2 đường thủy, bộ. Cánh quân bộ của Thoát Hoan tiến vào Thăng Long, sau đó tiến đánh các căn cứ của quân Trần nhưng thất bại.
Năm 1288, nhà Trần tổ chức phản công nhiều nơi, đặc biệt chủ động tiêu diệt đoàn thuyền lương của quân Nguyên tại Vạn Đồn và Vân Đồn, khiến địch rơi vào thế đói khát và phải lui quân, đỉnh điểm là trận Bạch Đằng đánh tan hoàn toàn thủy quân Nguyên.
Đến ngày 19 tháng 4 năm 1288, quân Nguyên đã bị quét sạch hoàn toàn khỏi Đại Việt, cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 kết thúc thắng lợi.
Sau hai cuộc kháng chiến chống Nguyên thắng lợi, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã bắt tay vào việc tái thiết kinh tế, xã hội Đại Việt. Khoảng tháng 5 năm 1288, ông xuống chiếu đại xá thiên hạ và cắt giảm thế má, sưu dịch cho dân chúng. Đặc biệt, các vùng bị chiến tranh tàn phá đều được miễn thuế và sưu dịch hoàn toàn.
Ngày 16 tháng 4 năm 1293, Trần Nhân Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Thuyên, tức Hoàng đế Trần Anh Tông rồi lên làm Thái thượng hoàng.
Năm 1294, Thượng hoàng bắt đầu quá trình tu tập tại hành cung Vũ Lâm (là một căn cứ quân sự thời Trần nằm ở Ninh Bình). Bên cạnh đó, Nhân Tông vẫn tham gia cùng Anh Tông trị nước.
Năm 1294, Thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đi dẹp loạn Ai Lao, và quân đội Đại Việt, dưới sự chỉ huy của danh tướng Phạm Ngũ Lão, đã thắng trận, bắt được rất nhiều tù binh và súc vật.
Tháng 8 âm lịch năm 1294, quân Ai Lao xâm lấn Đại Việt lần hai, Thượng hoàng lại thân chinh đánh dẹp. Quân Việt do Nhân Tông chỉ huy đã đánh tan quân Ai Lao, đồng thời thu được nhiều tù binh và chiến lợi phẩm, ổn định tình hình đất nước.
Năm 1299. Ông lên núi Yên Tử, sáng lập thiền phái Trúc Lâm và chuyên cần tu tập theo hạnh khổ hạnh, lấy pháp danh Hương Vân Đại Đầu đà.
Tháng 12 năm 1308, Trần Nhân Tông viên tịch trên đỉnh Ngọa Vân (Yên Tử), hưởng dương 50 tuổi.
Tên của ông được đặt cho nhiều trường học ở Việt Nam, một số con đường của các thành phố, tỉnh. Trong khi đó, ở các tỉnh miền Trung và miền Nam lại viết là Trần Nhân Tôn.
Đền thờ chính của Phật hoàng Trần Nhân Tông là Khu di tích Đền Trần ở Hưng Hà, Thái Bình và Tháp Huệ Quang tại Chùa Vân Yên, Yên Tử, Quảng Ninh, nơi chứa ngọc cốt của ông.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH