Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần, nổi tiếng với tài năng quân sự và trí tuệ uyên bác. Ông đã chỉ huy quân dân Đại Việt đánh thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất, mở nền móng vững chắc cho sự hưng thịnh của nhà Trần.
Ông lên ngôi vào năm 1226, sau khi được vợ mình, Lý Chiêu Hoàng, nhường ngôi, kết thúc triều đại nhà Lý và mở đầu triều đại nhà Trần.
--------------
1. Sơ lược về Trần Cảnh.
Trần Thái Tông nguyên tên thật là Trần Bồ sau đổi thành Trần Cảnh, quê ở hương Tức Mặc (nay là phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định). Ông sinh ngày 9 tháng 7 năm 1218, là con trai thứ hai của quan Nội thị phán thủ Trần Thừa, mẹ ông là Thuận Từ Hoàng hậu Lê thị.
Trần Cảnh ra đời và lớn lên lúc họ Trần đang nắm quyền hành trong triều đình Nhà Lý, với trụ cột là chú ruột Trần Tự Khánh và phụ thân Trần Thừa. Sau khi Trần Tự Khánh mất (1223), một người chú họ của ông là Trần Thủ Độ (em họ Trần Thừa) được phong chức Điện tiền Chỉ huy sứ, cai quản lực lượng cấm vệ hoàng cung.
Năm 1225, Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái 7 tuổi là Chiêu Thánh, tức vua Lý Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ tiến cử Trần Cảnh, lúc đó mới 8 tuổi, làm Chi hậu chính chi ứng cục hầu hạ trong cung. Trần Cảnh trạc tuổi với Chiêu Hoàng, được bà rất quý mến, gần gũi và hay trêu đùa. Trần Thủ Độ đã lợi dụng điều này để dàn xếp hôn nhân giữa Chiêu Hoàng với Trần Cảnh, sau đó ép Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng.
Ngày 22 tháng 11 năm 1225, Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh.
Ngày 10 tháng 1 năm 1226, Chiêu Hoàng trao hoàng bào cho Trần Cảnh ở điện Thiên An. Nhà Lý chấm dứt sau 216 năm tồn tại.
Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Thiện Hoàng, sau đổi thành Văn Hoàng và được quần thần tặng tôn hiệu Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng đế. Sử sách gọi ông là Trần Thái Tông.
Tân hoàng đế mời cha là Trần Thừa làm Thái thượng hoàng, Trần Thủ Độ làm Thái sư, lại phong Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh Hoàng hậu.
Sau đó, Trần Thủ Độ lập mưu bức tử nhạc phụ ông là nhà sư Huệ Quang (Lý Huệ Tông trước đây) nhằm dẹp trừ hậu họa.
Từ năm 1226 đến 1258, với sự giúp đỡ của thượng hoàng, Thái sư và các đại thần, Trần Thái Tông đã ban hành nhiều biện pháp về kinh tế, nông nghiệp, giáo dục, văn hóa và luật pháp để củng cố nền cai trị của triều Trần, qua đó đã tạo nên một sự nghiệp huy hoàng trong cả lĩnh vực quân sự, lẫn chính trị và kinh tế thời bấy giờ.
Năm 1236, thấy Thuận Thiên công chúa (chị của Chiêu Thánh và cũng là vợ Hoài vương Trần Liễu - anh Thái Tông) đang mang thai Trần Quốc Khang 3 tháng, Trần Thủ Độ ép nhà vua phế Chiêu Thánh xuống làm công chúa, rồi lấy Thuận Thiên làm hoàng hậu mới. Trần Liễu không chịu mất vợ, bèn tập hợp binh lực nổi dậy trên sông Cái. Điều này làm cho Thái Tông khó xử, và vào một đêm ngày 9 tháng 5, ông bí mật rời Thăng Long lên núi Yên Tử, xin tu theo thiền sư Đạo Viên.
Khi thiền sư hỏi ông có nhu cầu gì mà lên núi, nhà vua bày tỏ: "Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước, thạnh suy không thường, cho nên Trẫm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác".
Sư Đạo Viên trả lời:
"Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là Chân Phật. Nay Bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài."
Sau đó, Trần Thủ Độ đưa các quan lên núi Yên Tử năn nỉ Thái Tông trở lại kinh đô. Sư Đạo Viên cũng khuyên rằng:
"Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ trở về, Bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong Bệ hạ đừng xao lãng."
Nghe lời sư Đạo Viên và Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông cùng bách quan trở về kinh đô, tiếp tục trị nước. Hai tuần sau, Trần Liễu nhận thấy quân mình yếu thế và không thể chống lại triều đình. Trần Liễu chờ lúc Thái Tông đi thuyền qua sông Cái, rồi Liễu cải trang làm người đánh cá, đi thuyền độc mộc đến chỗ thuyền ngự để đầu hàng. Trần Thủ Độ rút gương toan chém Trần Liễu, nhưng Thái Tông lấy thân mình bảo vệ cho Trần Liễu, rồi khuyên Trần Thủ Độ thu quân. Nhà vua còn cấp cho Trần Liễu đất thái ấp ở Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng và Yên Bang (nay thuộc Quảng Ninh), ngoài ra tặng Liễu tước Yên Sinh vương.
Năm 1240, dân Thổ Mán từ nước Tống kéo sang Đại Việt, cướp phá Lạng Giang. Thái Tông cử thị thần Bùi Khâm lên biên giới giải quyết tình hình.
Mùa đông năm 1241, người dân tộc nước Tống lại quấy phá biên giới Đại Việt. Thái Tông sai đốc tướng Phạm Kính Ân mang quân dẹp loạn, phá được quân Thổ, Mán.
Cuối năm 1241, Trần Thái Tông thân chinh đánh vào đất Tống, hòng truy diệt các toán cướp Thổ Mán và nối lại đường giao thông giữa Đại Việt với Tống.
Sau khi về nước, tháng 4 âm lịch năm 1242, vua Thái Tông lại sai Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đưa quân lên đóng tại biên ải Việt-Tống. Trần Khuê Kính thúc quân đánh chiếm lộ Bằng Tường (Trung Quốc), từ đây các tuyến giao thông giữa Đại Việt với Tống hoàn toàn được khôi phục.
Ở phía Nam, kể từ cuối thời Lý, Chiêm Thành thường xua quân cướp phá vùng ven biển của Đại Việt và đòi vua Trần trả lại lãnh thổ bị mất năm 1069.
Tháng 1 âm lịch năm 1252, Thái Tông cử em là Trần Nhật Hiệu làm Lưu thủ kinh sư, rồi thân chinh đánh Chiêm Thành. Quân Đại Việt thắng trận, bắt được vương hậu Bố Da La cùng nhiều thê thiếp, quân dân của vua Chiêm.
Cuối năm 1252, vua Thái Tông đem quân về nước, phong Nhật Hiệu làm Thái úy. Thất bại này khiến Chiêm Thành phải chính thức thần phục Nhà Trần.
Tháng 12 âm lịch năm 1257, Ngột Lương Hợp Thai dẫn gần 3 vạn quân tiến vào Đại Việt. Trần Thái Tông thân đem sáu quân đi đánh. Sử cũ ghi nhận nhà vua và tướng Lê Phụ Trần đã chiến đấu rất can đảm, nhưng không thể đánh bại quân Mông Cổ bèn lui quân.
Đầu năm 1258, dưới sự lãnh đạo của Trần Thái Tông,Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn, quân và dân ta đã toàn thắng trong cuộc chiến xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của đất nước.
Ngày 30 tháng 3 năm 1258, Trần Thái Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, tức Hoàng đế Trần Thánh Tông. Trần Thái Tông lui về cung Thánh Từ làm Thái thượng hoàng.
Ngày 5 tháng 5 năm 1277, Thượng hoàng Trần Thái Tông qua đời tại điện Vạn Thọ (Thăng Long), hưởng thọ 60 tuổi.
Đền thờ vua Trần Thái Tông ở Khu di tích đền Trần tại thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đây là nơi đặt lăng mộ và đền thờ các vị vua nhà Trần, được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, là nơi để hậu thế tưởng nhớ và ghi công ơn của các bậc tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Về điểm đến ↗
Nhà Trần (1225–1400)
Trần Thái Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Trần Thái Tông
Tên thật là Trần Cảnh
Sinh : 1218, Phủ Thiên Trường (Nam Định)
Mất : 1277, Điện Vạn Thọ,Thăng Long (Hà Nội)
Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần, nổi tiếng với tài năng quân sự và trí tuệ uyên bác. Ông đã chỉ huy quân dân Đại Việt đánh thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất, mở nền móng vững chắc cho sự hưng thịnh của nhà Trần.
Ông lên ngôi vào năm 1226, sau khi được vợ mình, Lý Chiêu Hoàng, nhường ngôi, kết thúc triều đại nhà Lý và mở đầu triều đại nhà Trần.
--------------
1. Sơ lược về Trần Cảnh.
Trần Thái Tông nguyên tên thật là Trần Bồ sau đổi thành Trần Cảnh, quê ở hương Tức Mặc (nay là phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định). Ông sinh ngày 9 tháng 7 năm 1218, là con trai thứ hai của quan Nội thị phán thủ Trần Thừa, mẹ ông là Thuận Từ Hoàng hậu Lê thị.
Trần Cảnh ra đời và lớn lên lúc họ Trần đang nắm quyền hành trong triều đình Nhà Lý, với trụ cột là chú ruột Trần Tự Khánh và phụ thân Trần Thừa. Sau khi Trần Tự Khánh mất (1223), một người chú họ của ông là Trần Thủ Độ (em họ Trần Thừa) được phong chức Điện tiền Chỉ huy sứ, cai quản lực lượng cấm vệ hoàng cung.
Năm 1225, Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái 7 tuổi là Chiêu Thánh, tức vua Lý Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ tiến cử Trần Cảnh, lúc đó mới 8 tuổi, làm Chi hậu chính chi ứng cục hầu hạ trong cung. Trần Cảnh trạc tuổi với Chiêu Hoàng, được bà rất quý mến, gần gũi và hay trêu đùa. Trần Thủ Độ đã lợi dụng điều này để dàn xếp hôn nhân giữa Chiêu Hoàng với Trần Cảnh, sau đó ép Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng.
Ngày 22 tháng 11 năm 1225, Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh.
Ngày 10 tháng 1 năm 1226, Chiêu Hoàng trao hoàng bào cho Trần Cảnh ở điện Thiên An. Nhà Lý chấm dứt sau 216 năm tồn tại.
Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Thiện Hoàng, sau đổi thành Văn Hoàng và được quần thần tặng tôn hiệu Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng đế. Sử sách gọi ông là Trần Thái Tông.
Tân hoàng đế mời cha là Trần Thừa làm Thái thượng hoàng, Trần Thủ Độ làm Thái sư, lại phong Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh Hoàng hậu.
Sau đó, Trần Thủ Độ lập mưu bức tử nhạc phụ ông là nhà sư Huệ Quang (Lý Huệ Tông trước đây) nhằm dẹp trừ hậu họa.
Từ năm 1226 đến 1258, với sự giúp đỡ của thượng hoàng, Thái sư và các đại thần, Trần Thái Tông đã ban hành nhiều biện pháp về kinh tế, nông nghiệp, giáo dục, văn hóa và luật pháp để củng cố nền cai trị của triều Trần, qua đó đã tạo nên một sự nghiệp huy hoàng trong cả lĩnh vực quân sự, lẫn chính trị và kinh tế thời bấy giờ.
Năm 1236, thấy Thuận Thiên công chúa (chị của Chiêu Thánh và cũng là vợ Hoài vương Trần Liễu - anh Thái Tông) đang mang thai Trần Quốc Khang 3 tháng, Trần Thủ Độ ép nhà vua phế Chiêu Thánh xuống làm công chúa, rồi lấy Thuận Thiên làm hoàng hậu mới. Trần Liễu không chịu mất vợ, bèn tập hợp binh lực nổi dậy trên sông Cái. Điều này làm cho Thái Tông khó xử, và vào một đêm ngày 9 tháng 5, ông bí mật rời Thăng Long lên núi Yên Tử, xin tu theo thiền sư Đạo Viên.
Khi thiền sư hỏi ông có nhu cầu gì mà lên núi, nhà vua bày tỏ: "Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước, thạnh suy không thường, cho nên Trẫm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác".
Sư Đạo Viên trả lời:
"Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là Chân Phật. Nay Bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài."
Sau đó, Trần Thủ Độ đưa các quan lên núi Yên Tử năn nỉ Thái Tông trở lại kinh đô. Sư Đạo Viên cũng khuyên rằng:
"Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ trở về, Bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong Bệ hạ đừng xao lãng."
Nghe lời sư Đạo Viên và Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông cùng bách quan trở về kinh đô, tiếp tục trị nước. Hai tuần sau, Trần Liễu nhận thấy quân mình yếu thế và không thể chống lại triều đình. Trần Liễu chờ lúc Thái Tông đi thuyền qua sông Cái, rồi Liễu cải trang làm người đánh cá, đi thuyền độc mộc đến chỗ thuyền ngự để đầu hàng. Trần Thủ Độ rút gương toan chém Trần Liễu, nhưng Thái Tông lấy thân mình bảo vệ cho Trần Liễu, rồi khuyên Trần Thủ Độ thu quân. Nhà vua còn cấp cho Trần Liễu đất thái ấp ở Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng và Yên Bang (nay thuộc Quảng Ninh), ngoài ra tặng Liễu tước Yên Sinh vương.
Năm 1240, dân Thổ Mán từ nước Tống kéo sang Đại Việt, cướp phá Lạng Giang. Thái Tông cử thị thần Bùi Khâm lên biên giới giải quyết tình hình.
Mùa đông năm 1241, người dân tộc nước Tống lại quấy phá biên giới Đại Việt. Thái Tông sai đốc tướng Phạm Kính Ân mang quân dẹp loạn, phá được quân Thổ, Mán.
Cuối năm 1241, Trần Thái Tông thân chinh đánh vào đất Tống, hòng truy diệt các toán cướp Thổ Mán và nối lại đường giao thông giữa Đại Việt với Tống.
Sau khi về nước, tháng 4 âm lịch năm 1242, vua Thái Tông lại sai Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đưa quân lên đóng tại biên ải Việt-Tống. Trần Khuê Kính thúc quân đánh chiếm lộ Bằng Tường (Trung Quốc), từ đây các tuyến giao thông giữa Đại Việt với Tống hoàn toàn được khôi phục.
Ở phía Nam, kể từ cuối thời Lý, Chiêm Thành thường xua quân cướp phá vùng ven biển của Đại Việt và đòi vua Trần trả lại lãnh thổ bị mất năm 1069.
Tháng 1 âm lịch năm 1252, Thái Tông cử em là Trần Nhật Hiệu làm Lưu thủ kinh sư, rồi thân chinh đánh Chiêm Thành. Quân Đại Việt thắng trận, bắt được vương hậu Bố Da La cùng nhiều thê thiếp, quân dân của vua Chiêm.
Cuối năm 1252, vua Thái Tông đem quân về nước, phong Nhật Hiệu làm Thái úy. Thất bại này khiến Chiêm Thành phải chính thức thần phục Nhà Trần.
Tháng 12 âm lịch năm 1257, Ngột Lương Hợp Thai dẫn gần 3 vạn quân tiến vào Đại Việt. Trần Thái Tông thân đem sáu quân đi đánh. Sử cũ ghi nhận nhà vua và tướng Lê Phụ Trần đã chiến đấu rất can đảm, nhưng không thể đánh bại quân Mông Cổ bèn lui quân.
Đầu năm 1258, dưới sự lãnh đạo của Trần Thái Tông,Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn, quân và dân ta đã toàn thắng trong cuộc chiến xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của đất nước.
Ngày 30 tháng 3 năm 1258, Trần Thái Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, tức Hoàng đế Trần Thánh Tông. Trần Thái Tông lui về cung Thánh Từ làm Thái thượng hoàng.
Ngày 5 tháng 5 năm 1277, Thượng hoàng Trần Thái Tông qua đời tại điện Vạn Thọ (Thăng Long), hưởng thọ 60 tuổi.
Đền thờ vua Trần Thái Tông ở Khu di tích đền Trần tại thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đây là nơi đặt lăng mộ và đền thờ các vị vua nhà Trần, được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, là nơi để hậu thế tưởng nhớ và ghi công ơn của các bậc tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH