Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Trần Thánh Tông là một vị vua nổi bật của nhà Trần, được biết đến với tài năng quân sự, đức độ và sự quan tâm đến đời sống nhân dân. Ông là vị vua duy nhất của nhà Trần trực tiếp tham gia và chỉ đạo cả ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược (1258, 1285, 1287).
Ngoài ra, ông còn là người có tầm nhìn xa trông rộng, chú trọng phát triển giáo dục, kinh tế và củng cố quốc phòng, đồng thời thực hiện các chính sách đối nội như khai hoang, khuyến học, xây dựng khối đoàn kết trong dân tộc và gia tộc.
---------------------
1. Sơ lược về Trần Thánh Tông.
Trần Thánh Tông tên thật là Trần Hoảng, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1240, tại Thăng Long. Ông là con thứ hai, nhưng mà là đích trưởng tử của Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của Hoàng triều Trần. Mẹ ông là Thuận Thiên Hoàng hậu Lý Ngọc Oanh, con gái Lý Huệ Tông (vua áp chót của triều Lý, chị gái Lý Chiêu Hoàng).
Ngay khi chào đời, Trần Hoảng đã được sách phong làm Đông cung Thái tử. Thánh Tông bản chất hiền tài, toát ra ngoài sáng ngời, xử sự dứt khoát, không chỉ làu thông kinh sử Nho gia mà còn hiểu sâu giáo pháp nhà Phật.
Năm 1258, Hoàng thái tử Trần Hoảng tham gia cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất. Sau khi nhà Trần rút khỏi Thăng Long thực hiện kế hoạch "vườn không nhà trống", quân ta phản công quyết liệt trong trận Đông Bộ Đầu, đánh tan quân địch và buộc chúng phải rút lui về nước, cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi.
Ngày 30 tháng 3 năm 1258, Trần Thái Tông nhường ngôi cho thái tử Hoảng rồi lui về Bắc cung làm Thái thượng hoàng, tạo cơ hội cho Trần Hoàng làm quen chính sự, đồng thời tránh xung đột tranh ngôi giữa các hoàng tử.
Thái tử lên ngôi Hoàng đế, xưng làm Nhân Hoàng và được bầy tôi tặng tôn hiệu Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu Hoàng Đế. Sử sách gọi ông là Trần Thánh Tông. Tháng 8 âm lịch năm 1258, Hoàng đế lập con gái thứ năm của cố An Sinh vương Trần Liễu (anh Trần Thái Tông) làm Thiên Cảm Phu nhân, ít lâu sau phong bà làm Thiên Cảm Hoàng hậu.
Ông đã ban hành nhiều chính sách về hành chính, kinh tế, giáo dục, quốc phòng, ngoại giao nhằm củng cố thực lực của Đại Việt. Ông còn nổi tiếng là một Hoàng đế đức độ, hòa ái đối với mọi người từ trong ra ngoài. Ông thường nói với các tôn thất rằng phải hòa thuận, có phúc cùng hưởng có nạn cùng chia và nên truyền dạy sự hòa thuận này cho con cháu đời sau.
Đến năm 1262, vua ban yến tiệc cho dân và nâng cấp làng Tức Mặc (quê hương của nhà Trần tại Nam Định) thành phủ Thiên Trường (kinh đô thứ hai nhà Trần), xây dựng cung điện vương giả như cung Trùng Quang và Cung Trùng Hoa để các vua ở và làm việc.
Năm 1278, sau khi vua cha Trần Thái Tông qua đời vào tháng 11, ông nhường ngôi cho con trai là Trần Khâm (Hoàng đế Trần Nhân Tông) và lui về làm Thái Thượng hoàng nhưng vẫn tham gia vào công việc triều chính.
Tháng 1 năm 1285, Thoát Hoan cầm đầu 50 vạn quân Nguyên tiến vào nước ta. Sau một vài trận đánh địch tại biên giới, quân ta đã tiến về Vạn Kiếp, Thăng Long và cuối cùng, rút về Thiên Trường để thực hiện kế hoạch “Vườn không nhà trống”.
Tháng 5 năm 1285, lợi dụng thời cơ quân địch đang suy yếu, 2 vua Trần tổ chức phản công đánh tan quân giặc ở nhiều nơi như Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử, Thăng Long. 50 vạn quân giặc bị giết chết, phần còn lại tháo chạy về nước. Toa Đô bị chém đầu, Thoát Hoan chui ống đồng về nước.
Tháng 12 năm 1287, 30 vạn quân Nguyên tấn công Đại Việt. Cánh quân thứ nhất do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào Lạng Sơn, Bắc Giang và chiếm đóng Vạn Kiếp. Cánh quân thứ 2 là thủy quân do Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào nước ta, ngược lên sông Bạch Đằng để phối hợp cùng Thoát Hoan.
Tháng 1 năm 1288, quân Thoát Hoan chiếm đóng Thăng Long.
Tháng 4 năm 1288, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi rút về theo đường sông Bạch Đằng. Quân ta nhử địch vào sâu trận khi thủy triều dâng cao; đến khi nước rút thì thuyền địch xô vào cọc và bị quân ta đánh từ hai bên bờ. Nhiều quân giặc bị ta giết chết, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Cánh quân bộ của Thoát Hoan nhanh chóng rút về nước. Quân Nguyên thất bại thảm hại kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên lần ba kết thúc.
Trần Thánh Tông là vị vua rất quan tâm đến đời sống của dân nghèo, khuyến khích khai hoang lập ấp, giúp dân có đủ ăn, đủ mặc.
Ngày 3 tháng 7 năm 1290, Thượng hoàng Thánh Tông qua đời tại cung Nhân Thọ, hưởng dương 50 tuổi.
Vua Trần Thánh Tông được an táng tại Dụ Lăng, thuộc khu lăng mộ các vị vua triều Trần ở hương Tinh Cương (nay là thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Về điểm đến ↗
Nhà Trần (1225–1400)
Trần Thánh Tông
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Trần Thánh Tông
Tên thật là Trần Hoảng
Sinh : 1240, Thăng Long (Hà Nội)
Mất : 1290, Cung Nhân Thọ, Thăng Long ( Hà Nội)
Trần Thánh Tông là một vị vua nổi bật của nhà Trần, được biết đến với tài năng quân sự, đức độ và sự quan tâm đến đời sống nhân dân. Ông là vị vua duy nhất của nhà Trần trực tiếp tham gia và chỉ đạo cả ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược (1258, 1285, 1287).
Ngoài ra, ông còn là người có tầm nhìn xa trông rộng, chú trọng phát triển giáo dục, kinh tế và củng cố quốc phòng, đồng thời thực hiện các chính sách đối nội như khai hoang, khuyến học, xây dựng khối đoàn kết trong dân tộc và gia tộc.
---------------------
1. Sơ lược về Trần Thánh Tông.
Trần Thánh Tông tên thật là Trần Hoảng, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1240, tại Thăng Long. Ông là con thứ hai, nhưng mà là đích trưởng tử của Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của Hoàng triều Trần. Mẹ ông là Thuận Thiên Hoàng hậu Lý Ngọc Oanh, con gái Lý Huệ Tông (vua áp chót của triều Lý, chị gái Lý Chiêu Hoàng).
Ngay khi chào đời, Trần Hoảng đã được sách phong làm Đông cung Thái tử. Thánh Tông bản chất hiền tài, toát ra ngoài sáng ngời, xử sự dứt khoát, không chỉ làu thông kinh sử Nho gia mà còn hiểu sâu giáo pháp nhà Phật.
Năm 1258, Hoàng thái tử Trần Hoảng tham gia cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất. Sau khi nhà Trần rút khỏi Thăng Long thực hiện kế hoạch "vườn không nhà trống", quân ta phản công quyết liệt trong trận Đông Bộ Đầu, đánh tan quân địch và buộc chúng phải rút lui về nước, cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi.
Ngày 30 tháng 3 năm 1258, Trần Thái Tông nhường ngôi cho thái tử Hoảng rồi lui về Bắc cung làm Thái thượng hoàng, tạo cơ hội cho Trần Hoàng làm quen chính sự, đồng thời tránh xung đột tranh ngôi giữa các hoàng tử.
Thái tử lên ngôi Hoàng đế, xưng làm Nhân Hoàng và được bầy tôi tặng tôn hiệu Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu Hoàng Đế. Sử sách gọi ông là Trần Thánh Tông. Tháng 8 âm lịch năm 1258, Hoàng đế lập con gái thứ năm của cố An Sinh vương Trần Liễu (anh Trần Thái Tông) làm Thiên Cảm Phu nhân, ít lâu sau phong bà làm Thiên Cảm Hoàng hậu.
Ông đã ban hành nhiều chính sách về hành chính, kinh tế, giáo dục, quốc phòng, ngoại giao nhằm củng cố thực lực của Đại Việt. Ông còn nổi tiếng là một Hoàng đế đức độ, hòa ái đối với mọi người từ trong ra ngoài. Ông thường nói với các tôn thất rằng phải hòa thuận, có phúc cùng hưởng có nạn cùng chia và nên truyền dạy sự hòa thuận này cho con cháu đời sau.
Đến năm 1262, vua ban yến tiệc cho dân và nâng cấp làng Tức Mặc (quê hương của nhà Trần tại Nam Định) thành phủ Thiên Trường (kinh đô thứ hai nhà Trần), xây dựng cung điện vương giả như cung Trùng Quang và Cung Trùng Hoa để các vua ở và làm việc.
Năm 1278, sau khi vua cha Trần Thái Tông qua đời vào tháng 11, ông nhường ngôi cho con trai là Trần Khâm (Hoàng đế Trần Nhân Tông) và lui về làm Thái Thượng hoàng nhưng vẫn tham gia vào công việc triều chính.
Tháng 1 năm 1285, Thoát Hoan cầm đầu 50 vạn quân Nguyên tiến vào nước ta. Sau một vài trận đánh địch tại biên giới, quân ta đã tiến về Vạn Kiếp, Thăng Long và cuối cùng, rút về Thiên Trường để thực hiện kế hoạch “Vườn không nhà trống”.
Tháng 5 năm 1285, lợi dụng thời cơ quân địch đang suy yếu, 2 vua Trần tổ chức phản công đánh tan quân giặc ở nhiều nơi như Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử, Thăng Long. 50 vạn quân giặc bị giết chết, phần còn lại tháo chạy về nước. Toa Đô bị chém đầu, Thoát Hoan chui ống đồng về nước.
Tháng 12 năm 1287, 30 vạn quân Nguyên tấn công Đại Việt. Cánh quân thứ nhất do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào Lạng Sơn, Bắc Giang và chiếm đóng Vạn Kiếp. Cánh quân thứ 2 là thủy quân do Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào nước ta, ngược lên sông Bạch Đằng để phối hợp cùng Thoát Hoan.
Tháng 1 năm 1288, quân Thoát Hoan chiếm đóng Thăng Long.
Tháng 4 năm 1288, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi rút về theo đường sông Bạch Đằng. Quân ta nhử địch vào sâu trận khi thủy triều dâng cao; đến khi nước rút thì thuyền địch xô vào cọc và bị quân ta đánh từ hai bên bờ. Nhiều quân giặc bị ta giết chết, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Cánh quân bộ của Thoát Hoan nhanh chóng rút về nước. Quân Nguyên thất bại thảm hại kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên lần ba kết thúc.
Trần Thánh Tông là vị vua rất quan tâm đến đời sống của dân nghèo, khuyến khích khai hoang lập ấp, giúp dân có đủ ăn, đủ mặc.
Ngày 3 tháng 7 năm 1290, Thượng hoàng Thánh Tông qua đời tại cung Nhân Thọ, hưởng dương 50 tuổi.
Vua Trần Thánh Tông được an táng tại Dụ Lăng, thuộc khu lăng mộ các vị vua triều Trần ở hương Tinh Cương (nay là thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH