Bỏ qua menu, đến nội dung
tck✳VĂN HÓA & DU LỊCH
Tìm cảm hứng

Ông được biết đến với tài văn chương uyên bác, tư tưởng Nho giáo sâu sắc và lối sống yêu thích thi ca hơn binh đao. Tuy nhiên, triều đại của ông cũng chứng kiến nhiều biến cố lịch sử quan trọng, đặc biệt là sự nhượng bộ và sau đó là mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp.
Vua Tự Đức có số lượng phi tần, ngự thiếp nhiều nhất trong số các vua Việt Nam, với con số được ghi nhận là 103. Tuy nhiên, ông không có con do thể chất yếu và bệnh tật.
-------------------------
1. Sơ lược về Tự Đức.
Nguyễn Phúc Hồng Nhậm sinh ngày 22 tháng 9 năm 1829 tại Huế, là con thứ nhưng là đích tử của vua Thiệu Trị và Phạm Thị Hằng (bà Từ Dụ). Khi còn nhỏ Hồng Nhậm còn có tên khác là Nguyễn Phúc Thì. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Trong suốt thời gian trị vì của mình ông chỉ sử dụng duy nhất một niên hiệu là Tự Đức.
Vì anh trai của ông, Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành nên vua Thiệu Trị trước lúc qua đời đã để di chiếu truyền ngôi cho ông. Bấy giờ ông mới 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái.
Đến tháng 10 năm 1847 ông chính thức lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu là Tự Đức, bắt đầu từ năm sau là 1848. Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo.
Triều đại của ông đánh dấu sự suy yếu của nhà Nguyễn và nhiều sự kiện xấu với vận mệnh Đại Nam. Quân đội nhà Nguyễn ngày càng suy yếu, kinh tế trì trệ, trong khi nhiều cuộc nội loạn diễn ra trong cả nước.
Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881, các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng các đại thần lại không thống nhất, nhà vua cũng không đưa ra được quyết sách dứt khoát.
Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng các đại thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.
Chính vua Tự Đức cũng phải tự phê về triều đại mình như sau: "Thanh dung thịnh nhi võ bị suy, nghị luận đa nhi thành công thiểu" nghĩa là: Bề ngoài hào nhoáng nhưng quân sự suy yếu, bàn luận nhiều mà thành công ít).
Triều đình nhà Nguyễn ngày càng bất lực trước sự tấn công của Pháp, chỉ mong cắt đất cầu hòa. Cuối cùng, tới năm 1883, Tự Đức qua đời, ngay sau đó Pháp tấn công vào kinh đô và ép buộc nhà Nguyễn phải công nhận sự "bảo hộ" của Pháp trên toàn Đại Nam. Nhà Nguyễn sau thời Tự Đức chỉ còn là danh nghĩa, vua Nguyễn chỉ còn là bù nhìn, thực tế thì đã mất nước vào tay Pháp.
Hiện nay, lăng Tự Đức được xây dựng trên một mảnh đất yên bình, nằm bên phải đồi Cảnh Vọng thơ mộng, thuộc thôn Thủy Ba, xã Thủy Biều, phường Thủy Xuân, thành phố Huế.
Về điểm đến ↗
Nhà Nguyễn (1802-1883)
Vua Tự Đức
CÂU CHUYỆN ĐIỂM ĐẾN
Điều làm nên sự đặc biệt
Vua Tự Đức
Tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm.
Sinh : 1829, Kinh Thành Huế
Mất : 1883, Kinh Thành Huế
Ông được biết đến với tài văn chương uyên bác, tư tưởng Nho giáo sâu sắc và lối sống yêu thích thi ca hơn binh đao. Tuy nhiên, triều đại của ông cũng chứng kiến nhiều biến cố lịch sử quan trọng, đặc biệt là sự nhượng bộ và sau đó là mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp.
Vua Tự Đức có số lượng phi tần, ngự thiếp nhiều nhất trong số các vua Việt Nam, với con số được ghi nhận là 103. Tuy nhiên, ông không có con do thể chất yếu và bệnh tật.
-------------------------
1. Sơ lược về Tự Đức.
Nguyễn Phúc Hồng Nhậm sinh ngày 22 tháng 9 năm 1829 tại Huế, là con thứ nhưng là đích tử của vua Thiệu Trị và Phạm Thị Hằng (bà Từ Dụ). Khi còn nhỏ Hồng Nhậm còn có tên khác là Nguyễn Phúc Thì. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Trong suốt thời gian trị vì của mình ông chỉ sử dụng duy nhất một niên hiệu là Tự Đức.
Vì anh trai của ông, Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành nên vua Thiệu Trị trước lúc qua đời đã để di chiếu truyền ngôi cho ông. Bấy giờ ông mới 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái.
Đến tháng 10 năm 1847 ông chính thức lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu là Tự Đức, bắt đầu từ năm sau là 1848. Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo.
Triều đại của ông đánh dấu sự suy yếu của nhà Nguyễn và nhiều sự kiện xấu với vận mệnh Đại Nam. Quân đội nhà Nguyễn ngày càng suy yếu, kinh tế trì trệ, trong khi nhiều cuộc nội loạn diễn ra trong cả nước.
Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881, các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng các đại thần lại không thống nhất, nhà vua cũng không đưa ra được quyết sách dứt khoát.
Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng các đại thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.
Chính vua Tự Đức cũng phải tự phê về triều đại mình như sau: "Thanh dung thịnh nhi võ bị suy, nghị luận đa nhi thành công thiểu" nghĩa là: Bề ngoài hào nhoáng nhưng quân sự suy yếu, bàn luận nhiều mà thành công ít).
Triều đình nhà Nguyễn ngày càng bất lực trước sự tấn công của Pháp, chỉ mong cắt đất cầu hòa. Cuối cùng, tới năm 1883, Tự Đức qua đời, ngay sau đó Pháp tấn công vào kinh đô và ép buộc nhà Nguyễn phải công nhận sự "bảo hộ" của Pháp trên toàn Đại Nam. Nhà Nguyễn sau thời Tự Đức chỉ còn là danh nghĩa, vua Nguyễn chỉ còn là bù nhìn, thực tế thì đã mất nước vào tay Pháp.
Hiện nay, lăng Tự Đức được xây dựng trên một mảnh đất yên bình, nằm bên phải đồi Cảnh Vọng thơ mộng, thuộc thôn Thủy Ba, xã Thủy Biều, phường Thủy Xuân, thành phố Huế.
MỘT GÓC NHÌN KHÁC
Qua những khung hình
TIẾP TỤC HÀNH TRÌNH